Câu chuyện của những người con nhà thơ Quang Dũng

Cập nhật: 16:53 | 25/09/2021
Nhà thơ Quang Dũng được độc giả biết đến với tập thơ Tây Tiến…, gần đây nhất là cuốn sách “Đoàn binh Tây Tiến” (Giải A- Giải sách quốc gia 2020). Kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông, mời độc giả cùng ôn lại những kỷ niệm  đáng nhớ.
cau chuyen cua nhung nguoi con nha tho quang dung
Nhà thơ- chiến sĩ quang Dũng- ảnh gia đình cung cấp.

Ký ức đẹp về người cha của các con nhà thơ

Trong cuộc gặp gỡ các CCB Trung đoàn 52 Tây Tiến và các thân nhân liệt sĩ tại Hòa Bình, tôi có cơ hội được nghe những câu chuyện về nhà thơ Quang Dũng qua lời kể của những người con nhà thơ. Anh Bùi Quang Vĩnh, con trai cả của ông được thừa hưởng từ bố về cảm thụ âm nhạc và thơ, là một nhà giáo, một nhạc sĩ. Nay đã về hưu, anh vẫn là hội viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên. Điều mà anh nhớ nhất, thấm thía nhất từ người cha là phong cách sống giản dị, tinh thần vượt khó và cách dạy con độc đáo.

“Nhà thơ Quang Dũng thời trẻ rất cao lớn, đẹp trai, đàn giỏi, hát hay, làm thơ, vẽ tranh, rất đa tài và đa cảm. Ông lại có ốc tinh tế, hài hước và tinh thần khẳng khái. Đặc biệt tinh thần chịu đựng gian khổ của ông rất cao. Tôi nhớ có lần ông đi bộ từ Hà Nội đến Thái Nguyên ba ngày, làm gương cho con cái về tinh thần vượt gian khổ…Nói chung, bố tôi là người hiền lành, chăm chỉ và rất thương vợ con. Ông thường dạy rất sớm xách từng xô nước lên gác ba mà nhẹ nhàng không để ai tỉnh giấc.

Con ốm thì ông giành phần cõng con đi bệnh viện, rồi giúp vợ đi kiếm lá, mua mùn cưa về đun. Cái mà tôi thấm thía nhất là ông giáo dục con rất nghiêm khắc, nhiều khi dạy con bằng cả hình ảnh và triết lý. Có những lần ông phạt tôi, bắt úp mặt vào tường, khi cần thiết ông đánh rất đau, nhưng không nhiều. Có lần ông lại bảo tôi: con đứng lên- tôi đứng, con ngồi xuống- tôi ngồi, rồi lại đứng lên, ngồi xuống… Sau đó ông hỏi: ai cao hơn? Ai thấp hơn? Con thấy không, con ngồi thì thấp hơn người khác, con đứng thì cao hơn…, vậy thôi!”- anh Vĩnh chia sẻ.

Còn chị Bùi Phương Thảo, nguyên Phó hiệu trưởng Trường tiểu học Võ Thị Sáu, quận Hoàn Kiếm Hà Nội thì tôi có cơ hội gặp gỡ nhiều hơn. Chị tuổi Nhâm Dần nhưng phong cách điềm đạm, nói năng chín chắn không giống lắm với tính cách tuổi Hổ. Chị bảo đó là do được người cha rèn giũa từ bé. Chị kể:

- Cả cuộc đời ông đều liên quan đến văn chương, chữ nghĩa, và trong cuộc sống bình thường đối với con cái đều thấm đẫm những cái ví von dẫn dắt đến những cái nguồn cội là thơ ca, đó là những cái tôi cảm nhận và ghi nhớ được và ngấm vào bản thân mình từ lúc nào không biết. Sau này tôi trở thành một giáo viên, mà chính nghề Này ông cụ khuyên tôi “con nên trở thành một giáo viên và bố tin chắc rằng con sẽ trưởng thành từ nghề này…”

Và dạy trẻ thì bố tôi thích tôi dạy trẻ nhỏ chứ không phải dạy học sinh lớn, những đứa trẻ còn trong trẻo chưa định hình điều gì khi sắp bước vào đời. Có thể đấy cũng là ngụ ý cha tôi gửi gắm, lúc đó tôi cũng không hiểu cha tôi muốn gửi gắm gì cho đứa con út như thế này, chỉ đơn giản nghĩ rằng ông muốn truyền cho tôi tình yêu thơ ca. Sau này trong con đường lập nghiệp bằng công tác giảng dạy, tôi dạy trẻ nhỏ có vận dụng tác phẩm “mùa quả cọ”- một bút ký của cha tôi nói về những con chim sống trong khu rừng Quốc Phương. Đấy cũng là một tác phẩm rất hay được dịch sang tiếng Pháp.

Qua những chiêm nghiệm thực tế ông viết được những chi tiết nó sắc sảo và đặc sắc về rừng Cúc Phương của Việt Nam. Lứa tuổi học sinh tôi dạy chưa đưa được bài thơ Tây Tiến và bài Đôi mắt người Sơn Tây, nhưng có thể lấy ra trích dẫn những câu vào phần cảm thụ văn học cho học sinh cấp tiểu học, hay những câu thơ trong bài thơ “Ao trưa làng” cũng vậy, cũng rất mềm mại, cũng có thể diễn xuôi thành đoạn văn để các em cảm thụ về cảnh yên bình của làng quê Việt Nam…

-Chắc rằng cha chị đã truyền cho chi tình yêu quê hương đất nước và rồi chị lại truyền dạy cho học sinh của mình, còn tình yêu thương của người cha trong gia đình thì sao, chị cảm nhận thế nào?- tôi hỏi.

-Bản thân tôi may mắn được gần gũi cha nhiều nhất, nhưng là gần gũi thời kỳ sau chiến tranh. Gia đình tôi có 5 người con, 3 trai hai gái, tôi là con gái út. Với các anh trai, cha tôi có cách giáo dục khác với con gái. Với các anh trai cha tôi giáo dục bằng biện pháp mạnh mẽ hơn, cương quyết và mềm dẻo hơn. Nhưng với con gái thì bao giờ cũng rất nhẹ nhàng, tế nhị. Có những câu chuyện ông nói rất nhẹ, thì thầm chứ không quát mắng bao giờ. Có thể ví người cha giống như nhân vật trong “Những người khốn khổ” – Giăng Van Giăng- một người giầu tình thương, nhân hậu.

Dạy con thì không đao to búa lớn, không nói những điều sách vở mà dạy vằng thực tế, dạy mà như không. Ví dụ một tình thương, một sự quan tâm ông không nói ra mồm mà bằng hành động. Lúc đó tôi chưa hiểu mà chỉ nghĩ chắc bố là người khỏe nhất nhà cho nên bố giành những việc nặng nhất để làm. Bây giờ thì tôi mới hiểu điều mà bố tôi gửi gắm, tức là tình yêu thương gia đình, gia đình là nơi bình yên nhất. Nỗi thống khổ của con người thì không nhất thiết ở đâu cũng phải dãi bày ra.

Mỗi con người, bên cạnh niềm vui cuộc sống đều có nỗi trắc ẩn riêng, nhưng tôi hiểu cha tôi đã qua tất cả những cái đó và nó lặn bên trong. Một hình ảnh mà tôi không sao quên được, và mỗi lần nhớ tới rất là thương. Mỗi lần bố tôi có một khoản tiền nho nhỏ nào đó, chắc là nhuận bút , ông phấn khởi lắm , viết một dòng chữ rất nhỏ rằng “ Sáng mai ngủ dậy bố cho đi ăn phở Tràng Tiền”, Hàng phở Tràng Tiền lúc đó phải xếp hàng mua, giờ là kem Tràng Tiền. Nghĩ đến đã thấy ngon rồi, mai đi ăn thì viết từ hôm nay để đầu giường hai con gái, mà chỉ con gái thôi, con trai lại không được vậy. Giờ thì có thể ăn bao nhiêu bát phở đặc biệt hơn nhiều, nhưng sao vẫn không ngon bằng bát phở ngày ấy!

- Theo chị có phải bố chị thiên vị đối với con gái không?

-Không đâu, là do ông vẫn dành cho con gái một quan tâm đặc biệt. Chị gái tôi hơn tôi 4 tuổi. Năm 10 tuổi chị bị một bệnh không phải là bẩm sinh mà do thời tiết, chị bị khớp đớp tim, hở van hai lá, nên bố tôi quan tâm đặc biệt. Chị tôi là Bùi Phương Hạ, sau này là cô giáo mầm non đã xung phong vào Lâm Đồng chứng minh mình là đủ sức khỏe để vào biên chế. Năm 1982 chị tôi vào trong đó dạy học và bố tôi đi vào theo. Một là ông muốn rèn luyện sức khỏe và viết những cái mới, phần nữa muốn chia sẻ với con gái những khó khăn… Ba năm sau bố tôi mắc bệnh tai biến…, tôi vào đón ra, mới cảm nhận rằng cái tình cảm của ông đối với con gái, nó cứ âm thầm, nhẹ nhàng…

Một chuyện nữa, bố tôi hay tập võ trên gác. Bố tôi bảo “Thảo mà có muốn học bố cũng không dạy” vì tôi nóng tính- tuổi Nhâm Dần mà. Thấy tôi thích học, ông bảo phải lớn hơn tí nữa ông mới dạy, bây giờ mà dạy thì sẽ hung hăng, đánh nhau…Sau này mỗi lần gặp cơn tức giận tôi lại kìm nén vì nhớ lời bố tôi mong muốn. Khi tôi ra trường, đi nhận nhiệm vụ ở Trường tiểu học Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, cũng không xa lắm khoảng 13 cây đạp xe, bố tôi đưa tôi đi bộ, vừa đi vừa nói: “đến chỗ ở mới phải biết quan sát, hòa mình và phải biết học hỏi, đây là sự gian khó đầu tiên mà con sẽ phải vượt qua bằng chính nghị lực của mình”, cuối cùng bố tôi khẳng định: “Bố biết Thảo sẽ rất vững vàng và trở thành một cô giáo nghị lực”. Đấy, bố tôi cứ nhẹ nhàng, mà tôi thấm thía.

Lúc đó tôi chán lắm, nghĩ sao bố lại cứ muốn mình là cô giáo tiểu học trong khi tôi thích làm những việc như con trai, máy móc nọ kia. Sau này có những lần nhiều nghề ngỗng khác mời gọi thì lời thủ thỉ của bố tôi lại níu tôi lại. Giờ tôi đã thấy hết ý nghĩa của nghề giáo. Tôi thừa hưởng cái gien của bố là biết tìm niềm vui trong gian khổ, khó khăn. Với học sinh tôi không gây áp lực cho các em. Đó là điều tôi cảm thấy đúng nghề, như khi phạt vào tay học sinh thì tôi phải hát một câu “xòe tay ra cô cho một cái roi”, mình phạt học sinh mà phụ huynh đến cám ơn, học sinh giờ vẫn nhớ. Cô bé ấy tên là Diệp, viết ẩu quá, tôi phạt mà hát lên như vậy. Có lẽ tôi thừa hưởng gien bố lạc quan. Tôi nghĩ, học sinh có lạc quan thì mới học, và tôi lạc quan mới không bỏ nghề…

cau chuyen cua nhung nguoi con nha tho quang dung
Các tác phẩm Giải A - Giải sách quốc gia 2020 được vinh danh (Chị Bùi Phương Thảo mặc áo dài đỏ thay mạt gia đình nhà thơ Quang Dũng lên nhận giải thưởng) - ảnh: intenet.

Dày công biên soạn sách của cha mình

Năm 2019, cuốn “Đoàn binh Tây Tiến” (di cảo- hồi ký) của tác giả Quang Dũng được Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành. Năm 2020 cuốn sách được vinh danh với Giải A- Giải thưởng sách quốc gia lần thứ 3. Đây không phải là một cuốn sách bề thế, chỉ có 100 trang, nhưng được đánh giá là một bài thơ Tây Tiến bằng văn xuôi. Những người đã đọc thơ Tây Tiến khi được tiếp xúc với Hồi ký “Đoàn binh Tây Tiến” có cảm giác hiểu rõ hơn, như được đồng hành cùng CCB Tây Tiến suốt chặng đường gian truân, vất vả, cũng như thấy rõ hơn hành trình chiến đấu, hoạt động dân vận của đoàn binh Tây Tiến...Cuốn sách cũng cho thấy cách tiếp cận văn chương của ông mà hầu như độc giả mới biết đến Quang Dũng ở vai trò thi sĩ. Bởi thế, 70 năm kể từ khi sáng tác, cuốn sách mới tới được độc giả, nhưng cảm xúc vẫn không hề cũ…

Là người trực tiếp thu thập di cảo của nhà thơ Quang Dũng và tham gia biên soạn cuốn sách, chị Bùi Phương Thảo chia sẻ: “Trước khi ông mất tôi cũng là một độc giả yêu thơ, yêu tác phẩm của ông. Nhưng đúng là lúc đó tôi không kịp nói với bố mình câu “con rất thích thơ của bố”. Rất tiếc điều đó tôi không kịp giãi bầy. Giờ tất cả những việc tôi làm ví dụ như tìm trong tất cả những kỷ vật của gia đình, bút tích còn lại của bố có thể sử dụng được cái gì thì tất cả các con cháu đều cố gắng. Trong 3 năm vừa rồi tôi đã tham góp biên soạn được 5 đầu sách cho cha tôi. Tôi cảm thấy có thể làm được cái gì dù rất nhỏ thì đều làm hết sức để bày tỏ tình thương yêu, kính trọng đối với cha mình.

Câu chuyện của những người con nhà thơ Quang Dũng cho thấy giá trị của một thế hệ đã đi xa, nhưng họ đã để lại những di sản vô giá trong cuộc sống hôm nay.

cau chuyen cua nhung nguoi con nha tho quang dung
Một góc của Nhà Trưng bầy lưu niệm các chiến sĩ Tây Tiến tại khu Lâm viên bia Tây Tiến ở Mộc Châu, Sơn La: Các nhân vật: Bùi Phương Thảo ( con gái nhà thơ Quang Dũng), Văn Kim ( con trai họa sĩ Văn Đa), Doãn Cẩn (con trai nhạc sĩ Doãn Quang Khải), Quang Sơn, Quang Hải ( hai con trai của họa sĩ Quang Thọ) ngồi dưới tượng và ảnh của cha mình.

Quang Dũng sinh ngày 11.10.1921, tên thật là Bùi Đình Diệm, tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng (nay thuộc Hà Nội). Trước cách mạng tháng Tám, ông học Ban trung học trường Thăng Long. Sau khi tốt nghiệp, ông đi dạy học tư ở Sơn Tây.

Ông gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, trở thành phóng viên tiền phương của báo Chiến đấu.

Năm 1947, ông được điều đi học Trường bổ túc trung cấp quân sự Sơn Tây. Sau khoá học, ông làm Đại đội trưởng ở tiểu đoàn 212, Trung đoàn 52 Tây Tiến. Ông tham gia chiến dịch Tây Tiến đợt hai, mở đường qua đất Tây Bắc. Trong thời gian này, ông còn được cử làm Phó đoàn tuyên truyền Lào - Việt.

Cuối năm 1948, sau chiến dịch Tây Tiến, ông làm Trưởng tiểu ban tuyên huấn của Trung đoàn 52 Tây Tiến, rồi làm Trưởng đoàn Văn nghệ Liên khu III.

Ông đã viết rất nhiều truyện ngắn xuất bản và viết kịch, cũng như đã triển lãm tranh sơn dầu cùng với các họa sĩ nổi danh. Ông sáng tác nhạc, bài Ba Vì của ông đã nổi tiếng ở trong khu kháng chiến. Ông làm bài thơ Tây Tiến năm 1948 khi dự Đại hội toàn quân ở Liên khu III tại làng Phù Lưu Chanh (Hà Đông).

Tháng 8 năm 1951, ông xuất ngũ.

Sau 1954, ông làm Biên tập viên tại báo Văn nghệ, rồi chuyển về làm việc tại Nhà xuất bản Văn học. Bài thơ "Tây Tiến" của ông được nhiều người yêu thích, được xuất bản và phổ biến rộng rãi và được nhiều người yêu thích ngay cả ở miền nam thời đó. Tuy nổi tiếng nhưng ông thích sống đạm bạc, không thích khoe khoang tên tuổi với ai. Khi nhận được những lời mời biếu tiền để sáng tác thơ của giới nhà giàu, ông từ chối và nói “Văn chương chữ nghĩa rẻ rúng đến thế ư?”.

Ông mất ngày 13 tháng 10 năm 1988 sau một thời gian dài bị bệnh tại bệnh viện Thanh Nhàn, Hà Nội.

Năm 2001, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Năm 2020, Giải A Giải sách quốc gia lần thứ 3 với cuốn Đoàn binh Tây Tiến.

Thanh Thủy