Chiến dịch then chốt giải phóng Đà Nẵng (26/3/1975 - 29/3/1975)

Cập nhật: 00:00 | 26/03/2021
Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, Quân khu Trị Thiên, Quân đoàn 2, Quân khu 5, đã mở chiến dịch Đà Nẵng (từ ngày 26.3 đến ngày 29.3.1975), tiến công tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Quảng Đà, không cho chúng có điều kiện củng cố lực lượng và bố trí thế chiến lược mới. Nhằm tiêu diệt lực lượng thuộc Quân đoàn 1 - Quân khu 1 quân đội Việt Nam Công hòa (VNCH) co cụm phòng thủ tại Đà Nẵng, trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975.    

Tại Đà Nẵng, lực lượng của quân Việt Nam Cộng hòa khoảng 75.000 quân, gồm: Sở chỉ huy Quân đoàn 1 - Quân khu 1, Sư đoàn thủy quân lục chiến 1 (có tàn quân của Lữ đoàn 147), Sư đoàn bộ binh 3, tàn quân của các sư đoàn bộ binh 1 và 2, Sư đoàn không quân 1 (279 máy bay, trong đó có 96 máy bay chiến đấu), Liên đoàn biệt động quân 17, Thiết đoàn 11 và tàn quân của Thiết đoàn 20, 7 tiểu đoàn pháo binh, 15 tiểu đoàn bảo an, 240 trung đội dân vệ và 24.000 phòng vệ dân sự.

Lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia chiến dịch có Quân đoàn 2 (thiếu Sư đoàn 324) và Quân khu 5 (gồm Sư đoàn bộ binh 2, Lữ đoàn bộ binh 52, 2 tiểu đoàn tăng thiết giáp, 1 tiểu đoàn pháo binh, 2 trung đoàn và 3 tiểu đoàn bộ đội địa phương, du kích và lực lượng tự vệ, biệt động...) tiến hành. Bộ Tư lệnh chiến dịch do đồng chí Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, đồng chí Chu Huy Mân làm Chính ủy.

Thực hiện chiến dịch giải phóng Đà Nẵng, từ ngày 26/3, trên các hướng, Quân giải phóng bắt đầu tiến công các vị trí phòng thủ vòng ngoài của địch, mở đường tiến vào thành phố. Ở hướng Bắc, Quân đoàn 2 đánh chiếm Phước Tường, Lăng Cô, đèo Hải Vân, kho xăng Liên Chiểu, tiến vào trung tâm thành phố. Ở hướng Nam, các đơn vị chủ lực Quân khu 5 và lực lượng vũ trang Quảng Đà pháo kích chặn các cửa biển, đánh chiếm quận lỵ Duy Xuyên, Vĩnh Điện, thị xã Hội An, sân bay Nước Mặn, bán đảo Sơn Trà, căn cứ Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 ngụy, sân bay Đà Nẵng, tiến vào cắm cờ trên nóc Tòa thị chính thành phố. Nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ khắp nơi.

Đến 15 giờ ngày 29.3.1975, Quân giải phóng làm chủ căn cứ quân sự liên hợp Đà Nẵng và bán đảo Sơn Trà, giải phóng hoàn toàn thành phố Đà Nẵng và toàn tỉnh Quảng Đà.

Kết quả, Quân giải phóng loại khỏi vòng chiến đấu toàn bộ lực lượng còn lại của Quân đoàn 1 - Quân khu 1 của VNCH, thu khối lượng lớn vũ khí, phương tiện chiến tranh gồm 129 máy bay, 80 xe tăng - thiết giáp, 47 tàu xuồng, 216 khẩu pháo, 184 xe vận tải cùng toàn bộ kho tàng đạn dược, lương thực, thực phẩm.

Ngày 29-3-1975 – Giải phóng Quảng Nam – Đà Nẵng

 Nhật ký chiến trường ghi:

- Ngày 10-3-1975, vào lúc 1 giờ 45 phút, quân ta nổ súng tấn công thị xã Buôn Ma Thuột, mở đầu chiến dịch quy mô ở Tây Nguyên.

- Ngày 11-3-1975, thị xã Buôn Ma Thuật hoàn toàn giải phóng.

- Ngày 14-3-1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu họp với Cao Văn Viên, Trần Thiện Khiêm, Đặng Văn Quang, Phạm Văn Phú ở Nha Trang, quyết định rút quân bỏ 3 tỉnh Kon Tum, Pleiku, Phú Bổn.

- Ngày 18-3-1975, Bộ Chính trị họp, hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong năm 1975.

- Ngày 19-3-1975, thị xã Quảng Trị và toàn tỉnh hoàn toàn giải phóng.

- Ngày 24-3, Quảng Ngãi và thị xã Tam Kỳ (tỉnh lỵ tỉnh Quảng Tín) hoàn toàn giải phóng.

- Ngày 26-3-1975, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Đảng ủy mặt trận Quảng Đà (mật danh 475), do Trung tướng Lê Trọng Tấn - Tổng tham mưu phó – làm Tư lệnh và Thượng tướng Chu Huy Mân – Tư lệnh quân khu V – làm Chính ủy, trực tiếp chỉ huy quân đoàn 2 và các lực lượng vũ trang khác ở khu V đánh chiếm căn cứ liên hợp quân sự hải lục không quân lớn thứ hai ở miền Nam là Đà Nẵng. Đến lúc này, tại Đà Nẵng, lực lượng của quân ngụy còn khoảng 75.000 tên, gồm sư đoàn 3, sư đoàn thủy quân lục chiến, tàn quân của sư đoàn 1 và 2, liên đoàn 12 biệt động quân, cùng 15 tiểu đoàn bảo an, 5.000 cảnh sát, sư đoàn 1 không quân với 373 máy bay các loại, 114 khẩu pháo, 70 xe tăng và xe bọc thép.

 Sáng ngày 28-3-1975, bộ phận đầu não của Đặc khu ủy Quảng Đà hành quân áp sát vùng ven Đà Nẵng và quyết định phát lệnh đồng loạt tấn công và nổi dậy, chiếm thành phố vào đêm 29 rạng ngày 30-3-1975. Ngay chiều 28, Ngô Quang Trưởng cùng Bộ tư lệnh vùng 1 chiến thuật đã bí mật chuồn ra hạm đội 7 của Mỹ đậu ở ngoài khơi, bỏ lại thành phố đang hoang mang, náo động, bất chấp lời kêu gọi “tử thủ Đà Nẵng” của Nguyễn Văn Thiệu.

Được tin Ngô Quang Trưởng cùng Bộ chỉ huy đã chuồn khỏi Đà Nẵng, ban chỉ đạo khởi nghĩa ở nội thành đã có quyết định sáng suốt và táo bạo là phát lệnh khởi nghĩa ngay trong đêm 28-3, mặt khác điện báo cho Bộ tư lệnh chiến dịch điều lực lượng vũ trang vào ngay thành phố, không chờ đến ngày 30-3 theo như kế hoạch đã dự kiến.

chien dich then chot giai phong da nang 2631975 2931975
Quân giải phóng vào Đà Nẵng

Rạng sáng ngày 29-3-1975, các cánh quân chủ lực của ta theo ba hướng tiến vào thành phố. Đến 11 giờ 30 phút, biệt động thành phố và sau đó đại đội 1 của trung đoàn 96 tiếp quản Tòa Thị chính. Lá cờ cách mạng tung bay trên nóc Tòa Thị chính, trên sở chỉ huy Quân đoàn 1 ngụy. Cờ cách mạng tung bay trên nóc Tòa thị chính Đà Nẵng ngày 29-3-1975 - Ảnh tư liệu của Báo Đà Nẵng. Phối hợp với lực lực lượng nổi dậy, của quần chúng chiều 29-3, bộ đội chủ lực đã vượt qua cầu Trịnh Minh Thế tiến vào cứ điểm Sơn Trà.

Đến chiều 29-3-1975, tiếng súng về cơ bản chấm dứt. Chiến dịch giải phóng thành phố lớn thứ hai ở miền Nam kết thúc thắng lợi hoàn toàn. Ta đã tiêu diệt và làm tan rã 10 vạn quân ngụy, thu và phá hủy 69.000 súng các loại, 138 xe tăng và xe bọc thép, 115 máy bay, hàng trăm tấn vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến tranh khác.  Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ tại cuộc Mítting mừng giải phóng QuảngNam - Đà Nẵng tại Đà Nẵng 1975

Chiến thắng của quân và dân ta trong chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng đã góp phần to lớn, và tạo điều kiện thuận lợi cho chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn và cả miền Nam thân yêu kết thúc vào ngày 30-4-1975.

P.V (Tổng hợp)

  • Xin chờ trong giây lát...