Chuyện kể chiến sĩ Tây Tiến: Năm đầu tiên dưới lá quân kỳ

Cập nhật: 15:20 | 26/07/2021
Kỷ niệm 74 năm ngày TBLS, những chuyện chiến đấu của "người trong cuộc" một lần nữa lại sống động, khơi gợi xúc cảm tới độc giả. Sau đây TN xin giới thiệu với quí độc giả chuyện kể của một người lính Tây Tiến, tuy ông không còn nữa.
chuyen ke chien si tay tien nam dau tien duoi la quan ky

Tác giả Vũ Mạnh Đôn

Chiều ngày 19/8/1945, giằng co với quân Nhật xong ở trước cửa trại Bảo an binh phố Hàng Bài, quân cách mạng chiếm lĩnh trại. Dưới quyền chỉ huy của anh Tuấn Sơn, ngày đó, có bao nhiêu quân ta ở đây, tôi không rõ; thỉnh thoảng được gọi lên đánh máy công văn cho anh Tuấn Sơn, thấy giấy tờ đều ghi “Liên Sơn” (tức là liên đội Tuấn Sơn).

Suốt ngày ở trong trại, học 10 lời thề, học động tác đội ngữ. Anh Vương Thừa Vũ chỉ huy thao trường; anh Tuấn Sơn và anh Dụ (trung đội trưởng) dạy đội ngũ.

Ngày 2/9/1945 toàn liên đội ăn mặc chỉnh tề, trang bị súng trường nhiều loại, đi đều đến Quảng trường Ba Đình rồi chia làm hàng rào danh dự, bảo vệ lễ Tuyên ngôn độc lập. Ba hôm sau, liên đội chuyển lên đóng ở Trường canh nông Đông Dương trong vườn Bách Thảo, rồi hành quân vào Hà Đông. Ở đó ít hôm chúng tôi lại vào Bình Đà, Thanh Oai để chuẩn bị đi xa.

Sắp tới rằm Trung thu lại chuyển quân, lần này hướng tới Xuân Mai, đồn điền Trị Thủy. Đơn vị đóng quân ở hai bên bờ sông Bùi. Đêm trăng sáng vằng vặc, chúng tôi ngồi ngoài sân lô cốt trò chuyện về thời học sinh ăn tết Trung thu. Những ngày đầu là thời gian luyện tập chiến đấu trên bãi cỏ gianh với các môn bắn súng, lợi dụng địa hình địa vật, xen kẽ với luyện đội ngũ.

Mấy ngày sau lại chuyển quân. Lần này tất cả các phân đội anh Tảo, anh Dụ và anh Tâm đều tập trung về huyện lị Lương Sơn, đóng quân ngay ven đường số 6. Ở đây cũng có một đội quân khác vừa mới đến. Đêm đó cả hai đơn vị được biên chế lại: Một nửa ở lại chuẩn bị tiếp, nghe anh em bàn tán là sẽ đi Nam tiến; một nửa vẫn mang tên Hoàng Diệu nhưng là cấp đại đội, chứ không phải liên đội, do các anh Anh Đệ, Tuấn Sơn và Lâm Ngọc chỉ huy. Các phân đội trở thành trung đội, hai trung đội của anh Tảo, anh Tâm vẫn nằm trong biên chế đại đội. Nay thêm một trung đội mới, toàn là chiến sĩ người Tày ở Việt Bắc về do anh Nông Ích Cao chỉ huy.

Mờ sáng, ăn bữa cuối ở Châu Lương Sơn, toàn đơn vị hành quân theo hướng Hoà Bình. Mãi sau này tôi mới biết đó là đoàn quân Tây Tiến đầu tiên với tên gọi "Đội võ trang trinh sát miền Tây" do anh Lê Hiến Mai trong Bộ chỉ huy Chiến khu 2 trực tiếp lãnh đạo. Từ đây tôi lại làm liên lạc viên của đại đội, ở qjùng hai anh y tá và một chiến sĩ thổi kèn đồng. Là liên lạc, tôi luôn bám sát anh Tuấn Sơn. Sẵn có cái kèn acmonica, vừa đi tôi vừa thổi mấy bài hành khúc quen thuộc theo yêu cầu của chiến sĩ.

Khoảng gần nửa đêm, qua Pheo đến bến Ngọc, rồi vượt sông Đà bằng đò ngang sang thị xã Hoà Bình, chúng tôi trú quân ở dinh công sứ Pháp cũ và ở vài ngôi nhà lớn, cơ quan, công sở của chính quyền. Mấy ngày ở đây phải luôn luôn “quân sự hoá’’ vì bên kia phố chợ Phương Lâm có quân Tàu, bên này thị xã có quân Nhật đang chờ giải giáp. Có hai sự kiện tôi nhớ vì thích nhất:

Một là, có một tối quân ta đốt lửa trại vui văn nghệ và mời cả quân Nhật lẫn quân Tàu dự. Nhật đã đầu hàng chờ ngày nộp vũ khí rồi về nước nên họ cử đến khoảng chục người. Tàu ở bên chợ Phương Lâm không sang, có lẽ bọn này ngại bọn kia.

Hai là, buổi trưa trời nóng, ngoài phiên gác chúng tôi rủ nhau đi tắm ở thác Ba Vành, một dòng nước dài độ trăm mét cuối cùng đoạn con suối đổ vào sông Đà. Ở khúc này có bốn, năm đoạn dốc, mỗi đoạn chừng 20m,.được xây lòng máng nhẵn nhụi, đầy rêu trơn. Gọi là đi tắm, thật ra là chơi cầu trượt cho chán hoặc hết giờ nghỉ mới về. Lớp học sinh của trung đội anh Tảo thú nhất trò này. Chiến sĩ trung đội anh Tâm toàn là cựu binh sĩ theo cách mạng, lớn tuổi rồi nên ít đùa nghịch. Trung đội anh ích Cao đều ở Việt Bắc quá quen với suối rừng nên chỉ tắm giặt thôi. Lúc đó có ai nghĩ rằng chỗ này, nửa thế kỷ sau, xuất hiện một nhà máy thuỷ điện khổng lổ.

Khoảng cuối tháng 9/1945 đơn vị lại lên đường, toàn theo đường mòn, lắm chỗ cheo leo bên bờ vực, chỉ đặt nổi bàn chân. Ngày đi đêm nghỉ lần lượt qua Chợ Bờ, Suồi Rút, rồi Mộc Hạ, Mộc Châu. Sau đó dừng chân ở bản Vặt, lại luyện tập quân sự nhưng với những từ ngữ rất lạ tai đối với bọn học sinh chúng tôi. Nào là "xạ kích ”, "phát tiến đình chỉ”, nào là “lơ phú dinh anh đo si noa com prãng xanh phác ti phành xì pành ”...

Giáo viên khi là Anh Đệ, khi là một anh cựu binh sĩ, người học của Tàu, người học của Tây. Chúng tôi vừa buồn cười vừa phục lăn, cứ há hốc mồm ra nghe, quên cả chớp mắt. Thú nhất là được bắn ba viên đạn thật, giật vai ê mấy ngày vì không ghì chặt báng súng.

Ở bản Vặt có một đêm lửa trại đoàn kết quân dân, có cả các chức sắc của địa phương dự. Điều mới lạ đối với tôi tối đó là được xem các cô gái Thái múa xoè, tận mắt thấy các bộ quần áo dân tộc với hàng cúc bạc lấp lánh, những điệu múa, bài hát chưa bao giờ biết.

Một tuần sau đơn vị lại hành quân, ngày đi, đêm nghỉ, vẫn theo đường rừng và phải chia đôi: Một nửa do anh Tuấn Sơn và Lâm Ngọc đi trước một ngày; nửa còn lại do anh Đệ chỉ huy hôm sau đi theo. Anh Lê Hiến Mai đi với bộ phận sau. Mãi về sau tôi mới biết sở dĩ phải chia đôi vì các bản ta đi qua đều nhỏ, ít nhà, không đủ chỗ ăn ở cho cả trăm rưỡi người một lúc. Ba ngày sau khi vượt đèo Pa Háng biên giới Việt - Lào, chúng tôi qua sông Mã bằng bè và thuyền độc mộc ở quãng Mường Hằng, giữa Sốp Bao và Sốp Hào, cách Sầm Nưa độ 70 cây số. Rồi ba ngày đi đường rừng nữa, bộ phận đi trước đến Mường Liệt, dừng lại nghỉ một ngày chờ bộ phận sau tới, cùng tiến quân giải phóng Sầm Nưa. Nửa đêm về sáng hôm sau toàn đơn vị hành quân theo đội hình chiến đấu vượt dốc Mường Liệt tiến về thị xã. Lúc quân ta vào thị xã Sầm Nưa thì quân Pháp đã bỏ chạy từ trước hai ngày rồi. Quân ta đóng ở Sầm Nưa chia ra làm ba điểm: Trên đồn cao của Nhật - Pháp cũ là trung đội anh Tảo cùng với anh Lê Hiến Mai và Tuấn Sơn; trung đội anh Tâm ở mấy công sở trên đường phố chính cùng với anh Đệ và Lâm Ngọc còn trung đội anh ích Cao đóng trên mấy nhà sàn lớn ở cuối thị xã.

Trên đồn cao còn có bệnh xá của đơn vị vì anh em sốt rét nhiều. Anh Thọ và anh Kỷ phụ trách quân y đơn vị. Ngoài ra còn có một thầy thuốc người Lào thỉnh thoảng có tới thăm bệnh nhân và chỉ bảo thêm (tôi làm cả việc thông ngôn tiếng Pháp khi giao tiếp với người thầy thuốc Lào). Việc phục vụ chăm sóc người bệnh do các thanh, thiếu nữ Việt kiều đảm nhiệm giúp thêm cho anh Thọ và anh Kỷ. Trong số các chị đó, có chị Nguyễn Thanh Liêm hiện nay đang sống ở Hà Nội, nay đã ngoài 90 tuổi.

Hai, ba ngày sau khi vào Sầm Nưa có tin địch ở Mường Láp, bọn này thuộc cánh quân của A-lếch-xăng-đơ-ri tiến từ Vân Nam sang, chúng khoảng một đại đội cả lính Pháp lẫn lính Việt, lại vừa được thả dù tiếp tế mọi thứ cần thiết. Chúng bỏ Sầm Nưa chạy về Xiêng Khỏang khi nghe đồn quân Việt Minh hành quân sang Sầm Nưa.

Quân ta tiến về Mường Láp. Đêm không trăng, chỉ có sao mờ. Suối chảy mạnh ào ào che giấu tiếng quân lội nước. Tôi bám sát anh Tuấn Sơn, chạy nhanh sang bên kia suối cho khỏi rét buốt. Qua suối một đoạn ngắn, bản Láp đã sừng sững trước mặt. Trên mấy sàn nhà lớn, âm vang tiếng cười nói của lính địch, tiếng ré của gái xoè, tiếng khèn hoà trong ánh lửa bập bùng.

Bên ta nổ súng, địch nháo nhào vọt ra qua cầu thang, qua cửa sổ, loạn xạ và chạy biến vào rừng đêm bỏ lại toàn bộ vũ khí, diện đài, tiền bạc, tài liệu, lương thực, quân trang... Trên nhà sàn chỉ còn có mấy cô gái xoè ngồi thám hại, run như dẽ, tay vái lia lịa. Anh Tuấn Sơn hô to: “Đốt đuốc, tìm ngoài rừng”. Một anh cựu binh sĩ ngăn: “ Ta cầm đuốc để làm bia cho nó bắn à. Nó ở trong tối mà”.

Ngay trong đêm đó và cả ngày sau, ta thu hết chiến lợi phẩm, huy động dân công và ngựa thồ đem hết về Sầm Nưa. Lễ mừng chiến thắng được tổ chức ở thị xã cùng với nhân dân Lào và Việt kiều. Một số vũ khí, quân trang, quân dụng được trang bị cho lực lượng vũ trang Lào mới được thành lập. Sau đó là hội hiến vàng xây dựng Tổ quốc...

Tôi bị ốm liệt giường hơn ba tuần lễ. Anh Kỷ, anh Thọ điều trị cho tôi, người thầy thuốc Lào vào thăm đã lắc đầu. ơ Sầm Nưa, có anh Tợ, Việt kiều chuyên buôn bán xe hơi đường Hà Nội - Sầm Nưa. Việt kiều thường xuyên vào thăm anh em ta ốm bệnh. Tôi nhờ anh Yến viết thư “tạ tội” với bố mẹ tôi vì đã bỏ nhà ra đi không nói một lời, một chữ nào. Anh Yến viết xong, tôi chỉ có thể nằm ký dưới thư và nhờ anh Tợ chuyển giúp. Thật bất ngờ độ mươi hôm sau, anh Hiến Mai và anh Tuấn Sơn vào thăm anh em ở bệnh xá và ghé thăm tôi ở buồng cách li. Các anh hỏi tôi có muốn về nước không? Tôi trả lời không về. Các anh khen, động viên, an ủi tôi và đưa cho tờ giấy nói: “Cậu giữ lấy làm kỷ niệm”. Khi các anh về rồi, tôi mở ra xem thì đó là bức thư của anh Võ Nguyên Giáp, người bạn học và cũng là bạn dạy học cùng với bố tôi ngày trước. Bô tôi biết tôi bị ốm “thập tử nhất sinh” đã đến xin anh Giáp cho tôi về chữa bệnh. Anh Giáp viết thư cho anh Hiến Mai và anh Tuấn Sơn rồi đưa cho bố tôi gửi anh Tợ chuyển lên Sầm Nưa. kèm thêm 500 viên thuốc ki-na-cơ rin (quinacrine), 100 ki-nin (quinine) tiêm và một trăm đồng Đông Dương. Tiền thì các anh giao cho tôi còn thuốc thì giao cho bệnh xá dùng chung theo chi định của quân y.

Thế là tôi không phải dùng đến mấy mét vải mà các - đã “sẵn sàng” để phần cho tôi. Tuy chưa khỏi hẳn. song biết tiếng Pháp, biết tên thuốc, biết tiêm chút ít nên các anh để tôi phụ tá cho anh Thọ và anh Kỳ để vừa phục vụ bệnh - vừa quan hệ với phía Lào. Gần tháng sau, nhờ sức trai, có thuốc, lại được Việt kiều cho ăn uống tốt, tôi khỏi dần.

Cuối năm 1945. lại chia quân: Một bộ phận nhỏ ở lạị Sầm Nưa; hai trung đội anh Tâm và anh ích Cao do anh Lâm Ngọc chỉ huy chuyển về đóng quân ở Sốp Hào cách Sầm Nưa 60km Tôi được đi theo, vừa làm thông ngôn vừa làm cứu thương. Đường về Sốp Hào lần này là đường cái, nhiều đèo dốc, cỏ gianh lan ra cả mặt đường. Trung đội anh Tâm đóng ở đồn Tây cũ, trung đội anh Nông ích Cao ở mấy nhà sàn lớn cùa dân phía Sốp Bao.

Sốp Hào là ngã ba, đường lớn về Sốp Bao, rẽ sang Mộc Châu, đường nhỏ cũng qua sông Mã về Thanh Hoá - Việt Nam.

Trong 4 tháng ở Sốp Hào, tôi được uỷ nhiệm quan hệ với bạn Lào về việc đảm bảo lương thực nuôi quân và ba lần làm nhiệm vụ giao liên giữa anh Lâm Ngọc và ban chỉ huy đội 3 do anh Nam Hải làm chì huy trưởng. Mồi lần đi vào Sốp Hào - Bản Vặt, Mộc Châu và về mất 6 ngày đường bộ, mình tôi một khấu Sten, một túi công văn thư từ, còn ăn uống thì vào nhà dân các bản dọc đường đi. Thú nhất là lên tới đỉnh đèo Pa Háng, nơi một cột mốc biên giới Việt - Lào, gió lông bốn phương, nhìn thấy đình Pha Luông trên 1.880m và sợ nhất là thấy những vết chân hổ vừa mới đi qua. Còn nhớ nhất là khi quần áo rách được các mẹ, các chị vá cho rất đẹp, lắm chưa rách cũng xin vá cho một miếng để làm kỷ niệm.

Khoảng giữa tháng 4 năm 1946, chúng tôi được lệnh rút về nước. Trên đường về chúng tôi gặp nhiều đoàn quân khác, tiếp tục tiến về miền Tây, không rõ là những đơn vị nào, đi về đâu? Chúng tôi bàn giao lại vũ khí, tiếp tục qua Suối Rút, Chợ Bờ, và Phương Lâm - Hoà Bình. Từ đây chúng tôi xuôi thuyền về bến Trung Hà. Hãng ôtô Mỹ Lâm đưa cả đoàn về Tông, chỉ huy Chiến khu 2 đóng và người ra đón lại chính là anh Lê Hiến Mai.

Hai ngày sau, chúng tôi được nghỉ phép 15 ngày về thăm trước khi nhận nhiệm vụ mới. Đến năm 1947 tôi lại lần nữa có mặt trong đoàn quân Tây Tiến thuộc Trung đoàn 52.

chuyen ke chien si tay tien nam dau tien duoi la quan ky
Ảnh chụp lưu niệm các CCB Tây Tiến trong cuộc hội thảo tại Viện lịch sử quân sự Việt Nam năm 2015 .

Vũ Mạnh Đôn