Có hơn 40.000 bé gái không có cơ hội chào đời do tư tưởng trọng nam khinh nữ ở Việt Nam.

Cập nhật: 11:35 | 19/07/2020
Trong nhiều thập kỷ qua, bình đẳng giới tại Việt Nam đã có những bước tiến. Tuy nhiên, tâm lý ưa thích con trai vẫn còn tồn tại, gây nên định kiến giới, luôn đặt nam giới và trẻ em trai ở địa vị xã hội cao hơn phụ nữ và trẻ em gái.

Bà Naomi Kitahara, Trưởng đại diện Quỹ dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) tại sự kiện công bố báo cáo Tình trạng dân số thế giới 2020, cho biết trong nhiều thập kỷ qua, bình đẳng giới tại Việt Nam đã có những bước tiến. Tuy nhiên, tâm lý ưa thích con trai vẫn còn tồn tại, gây nên định kiến giới, luôn đặt nam giới và trẻ em trai ở địa vị xã hội cao hơn phụ nữ và trẻ em gái.

Theo số liệu Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019, tỷ lệ giới tính khi sinh tự nhiên là 105 bé trai/100 bé gái, thì ở nước ta, con số này là 111,5 bé trai/100 bé gái. Có sự chênh lệch như vậy là do ở nước ta có sự lựa chọn giới tính để chọn con trai ở nhiều cặp cặp vợ chồng.Tình trạng lựa chọn giới tính dựa trên cơ sở định kiến giới.

Nguyên nhân dẫn tới mất cân bằng nhân khẩu học là do tình trạng lựa chọn giới tính trước khi sinh, tức là bỏ thai khi thai nhi được xác định là con gái, hay nuôi cấy phôi trước để xác định và lựa chọn được luôn giới tính, hoặc "lọc tinh trùng" phục vụ thụ tinh trong ống nghiệm.

Báo cáo Tình trạng Dân số Thế giới 2020 ước tính, có 40.800 bé gái mất cơ hội chào đời do tư tưởng trọng nam khinh nữ ở Việt Nam.

Do có nhiều trẻ em gái không được chào đời, trong khi nhiều bé trai được sinh ra nên dẫn đến sự mất cân bằng giới tính rất lớn tại nước ta. Tình trạng này gây nhiều hệ lụy sau này. Khi số lượng nam giới nhiều hơn nữ giới, các vấn đề xã hội có thể nảy sinh, làm trầm trọng hơn các hình thức bạo lực trên cơ sở giới như hiếp dâm, cưỡng ép quan hệ tình dục, bóc lột tình dục, buôn bán người và tảo hôn. Nếu tình trạng chênh lệch giới tính như hiện nay không có sự điều chỉnh thì Việt Nam sẽ đối mặt với tình trạng thiếu hụt nữ giới và phải "nhập khẩu" cô dâu như một số nước như Đài Loan, Hàn Quốc...

Tại báo cáo Tình trạng Dân số Thế giới 2020 của UNFPA đã chỉ ra rằng có ít nhất 19 thực hành có hại đối với phụ nữ và trẻ em gái. Đây là những thực hành bị thế giới lên án là hành vi xâm hại và vi phạm quyền con người. Trong số này, có ba thực hành xảy ra nhiều, đó là: cắt bỏ bộ phận sinh dục nữ (FGM), tảo hôn, lựa chọn giới tính trên cơ sở định kiến giới.

Theo thống kê 6 tháng đầu năm 2020, trên toàn thế giới có hơn 4 triệu trẻ em gái sẽ bị cắt bỏ bộ phận sinh dục. Một ngày có 33.000 trẻ em gái bị ép kết hôn.

Đặc điểm chung của những hành vi có hại này đều xuất nguồn từ sự bất bình đẳng giới và mong muốn kiểm soát cơ thể và cuộc sống của phụ nữ. Khi sức khỏe của phụ nữ và trẻ em gái giảm sút, họ không được tiếp cận với giáo dục và tiềm năng của họ bị hạn chế, cả nhân loại cũng bị ảnh hưởng.

Bà Naomi Kitahara nhấn mạnh 3 từ "tôn trọng", "bảo vệ", "thực thi". Mỗi người cần thể hiện sự tôn trọng đối phụ nữ và trẻ em gái bằng cách thay đổi những thái độ và hành vi. Bảo vệ phụ nữ và trẻ em gái thông qua việc ban hành và thực thi những quy định luật pháp chống lại những tập tục như tảo hôn, cắt bỏ bộ phận sinh dục ở nữ, lựa chọn giới tính trên cơ sở định kiến giới, cũng như thay đổi thái độ và chuẩn mực xã hội và văn hóa. Chính phủ cần thực hiện trách nhiệm của mình dựa theo những hiệp định về quyền con người yêu cầu chấm dứt nạn tảo hôn, cắt bỏ bộ phận sinh dục ở nữ, và lựa chọn giới tính dựa trên cơ sở định kiến giới.

Cuối cùng, theo bà Naomi Kitahara, sự đoàn kết đóng vai trò quan trọng giúp xóa bỏ tư tưởng ưa thích con trai và tình trạng lựa chọn giới tính trên cơ sở định kiến giới, cũng giống như mục tiêu phát triển bền vững "không ai bị bỏ lại phía sau". "Chúng ta cũng sẽ không để bất kỳ trẻ em gái nào bị bỏ lại phía sau", bà nói.

co hon 40000 be gai khong co co hoi chao doi do tu tuong trong nam khinh nu o viet nam
Hình ảnh minh họa

Để hạn chế tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, tại Việt Nam đã có những quy định pháp luật, coi việc lựa chọn giới tính khi sinh là vi phạm pháp luật. Hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Dân số, Điều 10 Nghị định 104/2003/NĐ-CP quy định chi tiết nghiêm cấm các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi theo 3 nhóm. Đó là nhóm tuyên truyền, phổ biến phương pháp lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức, nhóm chẩn đoán giới tính thai nhi vì mục tiêu lựa chọn giới tính và nhóm phá thai dưới mọi hình thức vì lý do lựa chọn giới tính.

Nghị định số 176/2013/NĐ-CP của Chính phủ còn quy định mức xử phạt về các hành vi vi phạm quy định về tuyên truyền, phổ biến, tư vấn phương pháp để có được giới tính thai nhi theo ý muốn, phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 15 triệu đồng cùng với các biện pháp khắc phục hậu quả. Nghị định này cũng nêu, các hành vi chẩn đoán, xác định giới tính thai nhi sẽ bị phạt tiền từ 3 triệu đồng đến 10 triệu đồng về việc chẩn đoán, tiết lộ, cung cấp thông tin về giới tính thai nhi, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Bên cạnh đó còn có hình thức xử phạt bổ sung, tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động, chứng chỉ hành nghề đối với cơ sở y tế, cán bộ y tế vi phạm.

Những hành vi vi phạm quy định về lựa chọn giới tính thai nhi như đe dọa, dùng vũ lực, ép buộc, uy hiếp tinh thần, buộc người khác phải áp dụng phương pháp để có được giới tính thai nhi theo ý muốn, hay chỉ định hoặc hướng dẫn sử dụng thuốc, cung cấp thuốc để có được giới tính thai nhi theo ý muốn; nghiên cứu các phương pháp để có được giới tính thai nhi theo ý muốn sẽ bị phạt tiền từ 3 triệu đồng đến 15 triệu đồng. Bên cạnh đó còn chịu hình thức xử phạt bổ sung: tịch thu tang vật được sử dụng để thực hiện hành vi, đình chỉ hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, nghiên cứu; đình chỉ hoạt động kinh doanh thuốc trong thời hạn theo quy định của pháp luật. Hành vi loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính bị xử lý với mức phạt càng tăng cao, từ mức 3 triệu đồng đến 20 triệu đồng.

Tuy nhiên, trên thực tế có hơn 90% thai phụ biết được giới tính của con trước khi sinh, nghĩa là trong quá trình thăm khám thai, các bà mẹ đã được tiết lộ về giới tính thai nhi mặc dù trong khi Pháp lệnh Dân số Việt Nam quy định cụ thể các hành vi liên quan đến việc lựa chọn giới tính thai nhi, trong đó có tiết lộ giới tính thai nhi sẽ bị xử lý.

Thực tế rất khó phát hiện những trường hợp chẩn đoán giới tính thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính. Trong khi đó, pháp luật cũng quy định, phá thai là quyền của phụ nữ, không quy định điều kiện phá thai (trừ có chống chỉ định về y tế), nên rất khó xác định các trường hợp phá thai vì lý do lựa chọn giới tính...

Theo các chuyên gia trong lĩnh vực dân số, những nguyên nhân dẫn tới vi phạm, trước hết, do việc tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về dân số còn hạn chế. Công tác quản lý nhà nước về xuất bản phẩm và phát hành sách liên doanh, liên kết còn nhiều bất cập. Công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan chức năng các cấp chưa thường xuyên, thiếu sát sao. Việc kiểm soát các hoạt động và đưa nội dung thông tin vào các sách, ấn phẩm hoặc website còn thiếu chặt chẽ…Tình trạng lợi dụng siêu âm để lựa chọn giới tính thai nhi vẫn ra phổ biến. Sự lạm dụng khoa học, công nghệ đã dẫn tới việc lựa chọn giới tính thai nhi ngày càng lan rộng trên hầu khắp các địa phương...

Nếu không có những biện pháp can thiệp quyết liệt, nhiều trẻ em gái sẽ không có cơ hôi được chào đời. Với tình trạng mất cân bằng giới tính diễn ra tại nước ta trong những năm gần đây, ước tính nước ta sẽ thiếu khoảng 2,3 - 4,3 triệu phụ nữ vào năm 2050, gây hệ lụy cho sự phát triển bền vững.

Đài Thanh

  • Xin chờ trong giây lát...