Đạo cầm bút của Nhà văn Sơn Tùng

Cập nhật: 13:02 | 26/07/2021
Với tôi, nhà văn Sơn Tùng là người cùng quê! Từ nhà tôi xuống nhà ông độ hơn chục cây, không quá xa. Tôi biết đến ông qua tác phẩm “Búp sen xanh” gây xôn xao dư luận một thời.    
dao cam but cua nha van son tung
Đám tang Sơn Tùng trong mùa dịch

Theo hiệu ứng đám đông, tôi cũng ra hiệu sách, mua về rồi cố đọc. Nhưng thú thực, tôi chưa đọc hết tác phẩm của ông, bởi những thông tin về Cụ Hồ quá nhiều. Mỗi năm vào dịp tháng Năm, tháng Chín thông tin về Cụ lại tràn ngập trên các báo, nếu đọc hết chắc bội thực thông tin. Tôi tạm hài lòng với mình về sự hiểu biết về Hồ Chí Minh, vĩ nhân của dân tộc với những thông tin đa chiều, kể cả thông tin ở “phía bên kia”.

Ở Hà Nội, nhà tôi cách nhà ông Sơn Tùng độ dăm cây, không quá xa, nhưng tôi chưa một lần đến thăm ông, điều này khiến tôi ân hận vì giờ đây, ông đã bình thản nhắm mắt về nơi cuối trời thênh thang, bỏ qua những bon chen phiền muộn chốn trần gian. Với chút hiểu biết hạn hẹp về ông, tôi xin bày tỏ lòng ngưỡng mộ Sơn Tùng, nhà văn rất nghiêm khắc với đạo chữ nghĩa mà ông tâm huyết theo đuổi cho đến cuối đời.

Trong một xã hội cởi mở, có rất nhiều sự lựa chọn, mỗi người đều có quyền tự do theo đuổi thứ mà mình đam mê. Người mê tiền có thể theo đuổi sự nghiệp kinh doanh, người háo danh có thể theo đuổi con đường quan chức, người mê tri thức có thể theo đường chữ nghĩa… Nghề nào có “đạo” (道)của nghề đó.

Khi biết tin Nhà Văn rời cõi tạm, tôi tìm “Búp sen xanh” đọc lại cảm nhận từng con chữ, từng trang viết mới cảm phục ông, thương tiếc ông vô hạn. Đã có hàng ngàn tác phẩm viết về Hồ Chí Minh, nhưng Búp sen xanh nổi bật lên trên tất cả những tác phẩm đó bởi đó là hiện thực sinh động của xã hội từ thế kỷ XIX được tái hiện lại qua ngòi bút của Sơn Tùng: Sinh động, đa sắc màu và hơn thế là đầy ắp tính nhân văn. Nhiều trang viết đã lấy đi rất nhiều nước mắt của người đọc bởi những nghĩa cử cao đẹp của những con người lam lũ chốn thôn quê dành cho nhau.

Sơn Tùng theo đuổi nghề viết, hơn thế, ông lựa chọn viết về Hồ Chí Minh. Để theo đuổi đam mê của mình, Sơn Tùng đã bỏ nhiều thời gian và công sức sưu tầm tài liệu liên quan đến cuộc đời, gia thế cũng như quá trình hoạt động khi còn trẻ của Hồ Chí Minh. Đã không ít lần về Nam Đàn, thăm những địa danh gắn liền với Hồ Chí Minh, nay đọc lại những trang viết của Sơn Tùng, tôi càng cảm phục khả năng quan sát, tái hiện không gian sống của vùng quê ấy cả trăm năm về trước.

Sau năm 1975, đất nước thống nhất, dẫu rằng điều kiện đi lại hồi đó còn rất nhiều khó khăn nhưng Sơn Tùng đã giành nhiều thời gian vào Nam, lần theo từng sợi chỉ mong manh để gặp được bà Lê Thị Huệ, người đã xuống tóc đi tu và sống khép mình trong một ngôi chùa ở Bà Rịa. Xin được nói thêm: Lê Thị Huệ, (Út Huệ) con gái của ông Lê Quang Hưng, giữ chức Kế quan - một chức vụ nhỏ ở Bộ Công. Bà vốn là học trò thầy Cử Nguyễn Sinh Sắc khi còn ở Huế. Hồi đó Nguyễn Tất Thành lên 10 và Lê Thị Huệ lên 8, vốn gắn bó với nhau vì tình đồng môn, cả hai đều sớm mồ côi mẹ.

Vợ Nhà văn Sơn Tùng, bà Phan Hồng Mai kể lại: Ở tuổi ngoài 80, bà Huệ ít giao tiếp với ai, Nhà văn phải lui tới 18 lần, vợ không được theo cùng, mà chỉ có một người cháu của bà Lê Thị Huệ là học giả Lê Hương dẫn tới. Đến khi thực sự tin cẩn, bà Huệ mới hé mở dần… Trao đổi với Nhà văn nhưng sau cùng bà Huệ dặn: “Khi nào tôi qua đời, ông có viết gì thì viết... Còn bây giờ thì không nên. Có người sẽ cho rằng tôi thấy sang bắt quàng làm họ”. Năm 1981, bà Lê Thị Huệ qua đời. Năm 1982, “Búp sen xanh” được xuất bản ra mắt công chúng.

Từ những câu chuyện với bà Huệ, Sơn Tùng đã tái dựng lại một trong những quãng đời gian khó, nhưng đẹp đẽ và thơ mộng nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phát hiện của Sơn Tùng đã mở ra một bước ngoặt, một cách tiếp cận hoàn toàn mới tới cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

Theo như lời giới thiệu của nhà xuất bản, sau khi hoàn thành xong bản thảo, cũng phải mất một thời gian khá dài thẩm định, tranh cãi để rồi cuối năm 1981, 100.000 bản Búp sen xanh đã được in và được công chúng đón nhận đã gây tiếng vang lớn. Trước lần tái bản lần hai cuốn sách đã bị phê bình rất nhiều do có nói về mối tình của Bác Hồ với cô gái tên Út Huệ.

Cuốn tiểu thuyết nhận được nhiều giải thưởng và chuẩn bị tái bản lần thứ 2 thì không hiểu từ đâu xuất hiện một lời phán cuốn sách "có vấn đề". Ngày 23 tháng 6 năm 1983, một tờ báo đã dành cả nửa trang phê phán Sơn Tùng dưới tiêu đề Vài ý kiến về Búp sen xanh. Đáng chú ý nhất là các đoạn: "...không thể nào có một nhân vật Út Huệ yêu Bác, chờ đợi Bác, theo dõi con đường Bác đi cứu nước suốt hàng chục năm mà trong tư tưởng, hành động lại không có biểu hiện gì trước phong trào chung của cách mạng cả nước đang phát triển...". Và cuối cùng bài báo kết luận: "Điều nguy hiểm hơn là tác giả Búp sen xanh đã gắn sự kiện mối tình của Út Huệ và Bác với sự kiện cắm hoa huệ trong nhà sàn của Bác ở Phủ Chủ tịch, và gắn sự kiện đó với câu nói của Bác năm 1962 khi tiếp đoàn cán bộ miền Nam ra thăm miền Bắc: “miền Nam luôn trong trái tim tôi”."

Tuy nhiên, một kết luận chính thức từ phía các cơ quan chức năng "Búp sen xanh không có vấn đề gì" đã dẹp bỏ những lời đồn đại, phê phán, và thêm 100.000 bản của lần tái bản thứ 2 cuốn “Búp sen xanh” đã ra mắt bạn đọc. Kể từ đây, mối tình ngắn ngủi của cô Út Huệ với người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành cũng đã được đưa lên màn ảnh và ngày nay người ta tiếp nhận nó như một lẽ đương nhiên.

Cũng trong năm 1983, Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết trong Lời tựa cho lần xuất bản thứ hai tiểu thuyết Búp sen xanh: "...Cuốn sách Búp sen xanh nêu lên một vấn đề: ở đây tiểu thuyết và lịch sử có thể gặp nhau không? Về vấn đề này các đồng chí hoạt động trong lĩnh vực văn học nghệ thuật nói chung và tất cả chúng ta, cần suy nghĩ để có thái độ. Song, ở đây cũng vậy, lời nói có trọng lượng lớn thuộc về người đọc, nghĩa là nhân dân...". Tuy nhiên, bản đầy đủ của lời tựa này mãi tới năm 2005 mới được in chính thức trong một bản Búp sen xanh của Nhà xuất bản Kim Đồng.

Kể từ ngày ra mắt vào năm 1982 đến nay, tiểu thuyết Búp sen xanh liên tục được tái bản tới 25 lần, và nếu tính những lần in nối bản thì khoảng 30 lần, với gần một triệu bản in chính thức đã ra mắt độc giả. Đây là điều hiếm thấy và có thể là duy nhất trong đời sống văn học Việt Nam.

Vinh quang đến với Nhà văn quá lớn, nhưng điều này không đồng nghĩa với những cải thiện về đời sống vật chất. Thời hội nhập, với người Hà Nội, đói nghèo bị đẩy lùi về dĩ vãng nhưng ông vẫn sống trong căn hộ cũ kỹ 9 mét vuông ở khu Văn Chương, chỉ kê giường ngủ bàn viết, giá sách đã kín gần hết gian phòng.

Theo con trai ông, anh Bùi Sơn Định, ông có nhiều cơ hội để thay đổi chỗ ở nhưng ông đã từ chối. Năm 1982, Cụ Phạm Văn Đồng đề nghị cấp cho ông một ngôi nhà ở Liễu Giai, ông không dám nhận ân huệ đó. Bởi vì ngày đó Búp sen xanh vừa ra đời, dư luận xôn xao, nên ông không muốn người đời hiểu lầm: Viết Bác Hồ để mon men lên Thủ tướng xin nhà.

Năm 1992, Thành đoàn Hà Nội và Cty xây dựng nhà ở Hà Nội xây cho căn nhà tình nghĩa, ông cũng xin nhường lại cho người khác khó khăn hơn. Nhà báo Hồng Thái Nguyễn cùng với một số bạn văn, thương cảm trước hoàn cảnh của ông tính chuyện lập tài khoản kêu gọi ủng hộ nhà văn Sơn Tùng nhưng vợ chồng ông đều từ chối. Thời của nền kinh tế thị trường, với bao cám dỗ về tiền bạc, vật chất, những người cầm bút thường bị cuốn vào sự cám dỗ ấy, nhưng với nhà văn Sơn Tùng thì không. Ông đã rời cõi tạm với một tâm hồn thanh tịnh, nghèo khó và không vụ lợi.

Một con người, lựa chọn nghề cầm bút, lựa chọn chủ đề viết mà thành quả là di sản đồ sộ gồm hơn hai chục tác phẩm gồm hơn hai chục đầu sách. Tiểu thuyết "Búp sen xanh" là tác phẩm thành công nhất. Cùng với đó là các tác phẩm "Bông sen vàng", "Sáng ánh tâm đăng Hồ Chí Minh", "Bác về", "Từ làng Sen", "Bác Hồ cầu hiền tài", "Hoa râm bụt", "Bác ở nơi đây", "Bên khung cửa sổ", "Nhớ nguồn", "Kỷ niệm tháng Năm", "Con người và con đường"… cùng với nhiều bài thơ được phổ nhạc.

Một di sản như vậy đã là ước mơ của hàng ngàn người cầm bút nhưng với tôi, tôi vẫn bày tỏ lòng kính trọng sâu sắc với ông rằng, dẫu là người sống xuyên qua 3 chế độ nhưng ông vẫn giữ vững “đạo” của người cầm bút, đó là sự khiết tịnh, nghèo khó và khát khao cống hiến cho bạn đọc những tác phẩm có chất lượng nhất.

Ngày ông ra đi cũng là lúc mà Hà Nội bắt đầu thực hiện giãn cách xã hội theo chỉ thị 16 để phòng chống dịch Covid. Hôm nay cũng là ngày mà gia đình và người thân đưa ông về quê an nghỉ, mong muốn đến thắp cho ông nén hương của tôi đã không thực hiện được. Xin được thắp nén hương vọng từ xa để bày tỏ lòng thành kính với một nhà văn, một nhân cách lớn, một người trọn đời giữ được đạo của người cầm bút! Điều cảm phục hơn nữa, ông một thương binh “kịch khung”.

Phan Thế Hải