Mối liên hệ giữa đột biến gene và di truyền ung thư

Các nhà nghiên cứu chỉ ra 8 bệnh ung thư có yếu tố di truyền gene đột biến ở người. Người có người thân, cha mẹ bị những bệnh ung thư này sẽ tăng tỷ lệ mắc bệnh lên nhiều lần.

Đột biến di truyền có thể gây bệnh ung thư ở thế hệ sau

Bác sĩ Trần Đức Cảnh, khoa nội soi và thăm dò chức năng Bệnh viện K, cho biết ung thư là kết quả của sự biến đổi vật chất di truyền. Các đột biến này thường là loại đột biến mắc phải, xảy ra ở một tế bào nhất định nào đó sau phơi nhiễm yếu tố nguy cơ và gây bệnh tại cơ quan đó mà không có tính chất di truyền qua các thế hệ gia đình.

Tuy nhiên ung thư cũng có thể là kết quả của đột biến di truyền (còn gọi là đột biến dòng mầm) thường phát sinh từ tế bào tinh trùng hoặc trứng (tế bào mầm), khiến ung thư có thể xuất hiện ở một số gia đình nhất định nào đó, di truyền từ thế hệ này sang thế hệ tiếp theo.

Một số bệnh ung thư mắc phải do di truyền gene đột biến

Một số bệnh ung thư mắc phải do di truyền gene đột biến

GS.TS Nguyễn Bá Đức, phó chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam cho hay một số loại ung thư có thể di truyền. Trong đó hai loại có tính di truyền rõ rệt nhất là ung thư nguyên bào võng mạc mắt là loại xảy ra ở trẻ nhỏ và ung thư tuyến giáp thể tủy. Các loại ung thư khác ở trẻ em bao gồm Wilm (một loại ung thư của thận).

Các yếu tố di truyền có thể mang trực tiếp như các gene gây ung thư nhưng cũng có thể là gián tiếp nhưng tạo điều kiện cho các nguyên nhân khác gây ung thư. Một ví dụ là tiếp xúc với ánh nắng mặt trời gây ung thư da nhưng chủng tộc da trắng dễ bị mắc bệnh hơn những người da đen.

Các dấu hiệu lâm sàng gợi ý một gia đình có nguy cơ di truyền bệnh ung thư bao gồm:

- Tiền sử gia đình có nhiều người thân ở nhiều thế hệ cùng mắc một loại ung thư.

- Tuổi khởi phát sớm so với tuổi trung bình mắc bệnh.

- Nhiều khối u nguyên phát: một người mắc cùng lúc nhiều loại ung thư hoặc ung thư xảy ra ở các cơ quan theo cặp (như hai mắt, hai thận hoặc hai vú).

Theo GS Đức, hiện nay người ta đã phân lập được các gene ung thư. Các gene ung thư này thường có các gene tiền thân được gọi là tiền gene ung thư. Khi có tác nhân tác động, hoạt hóa, các gene này có thể biến thành gene ung thư.

Từ đó gene ung thư mã hóa sản xuất các men, protein liên quan đến quá trình phân chia và biệt hóa tế bào theo xu hướng ác tính. Một loại gene khác là gene ức chế sinh ung thư. Khi vắng mặt một đột biến các gene này, bệnh ung thư có cơ hội phát triển.

Cơ chế gây biến đổi vật chất di truyền phát sinh ung thư gồm:

- Kích hoạt gene gây ung thư: Tiền gene gây ung thư giúp tế bào lớn lên và phân chia bình thường. Nhưng nếu tiền gene gây ung thư bị đột biến trở thành gene gây ung thư thì sẽ gây ra tình trạng mất kiểm soát tăng sinh và biệt hóa của tế bào, dẫn tới ung thư các gene gây ung thư mang tính trội ở mức tế bào và phân tử, nghĩa là chỉ cần một gene bị đột biến (trạng thái dị hợp) là đã có thể gây nên sự hình thành khối u.

Các gene gây ung thư thường gặp ở các thể ung thư do đột biến mắc phải và ít xảy ra trên các tế bào mầm nên ít gặp ở các thể ung thư di truyền.

- Bất hoạt các gene ức chế khối u: Gene ức chế khối u giữ vai trò kìm hãm tăng sinh tế bào nên có khả năng ức chế khối u và đóng vai trò trung tâm trong sự tăng trưởng, biệt hóa khối u. Đột biến gây thiếu hụt hoặc bất hoạt các gene này có thể dẫn đến hình thành và phát triển khối u do mất sự kìm hãm tăng sinh tế bào.

Vì các gene ức chế khối u có liên quan đến nhiều loại ung thư phổ biến, nên trong số các bệnh ung thư di truyền thì cơ chế bất hoạt gene ức chế khối u phổ biến hơn cơ chế kích hoạt gene gây ung thư và khiếm khuyết sửa chữa ADN.

- Khiếm khuyết sửa chữa ADN: Tế bào sống có một hệ thống rất tinh tế nhằm bảo tồn tính toàn vẹn của vật liệu di truyền. ADN có thể bị tổn thương thường xuyên trong quá trình hoạt động của tế bào một cách tự phát hoặc do tác động của các yếu tố môi trường.

Tuy nhiên các tổn thương này sẽ được sửa chữa kịp thời nhờ vào hoạt động của các gene sửa chữa ADN sẵn có như gene MSH2, MLH1, PMS1, PMS2...

Do đó khi các gene này bị thiếu hụt hay bất hoạt, việc sửa chữa ADN bị khiếm khuyết thì sẽ làm tăng nguy cơ xuất hiện ung thư.

Ung thư vú và buồng trứng và gene BRCA1và BRCA2

Các gene di truyền gồm đột biến ở gene BRCA1và BRCA2 làm tăng nguy cơ phát triển ung thư vú và buồng trứng.

Người có đột biến gene BRCA1, BRCA2 làm tăng nguy cơ ung thư vú tuổi 80 gấp 6 lần, cũng có thể phát triển bệnh này sớm hơn, nên xét nghiệm tầm soát.

Ung thư tuyến tụy và các ĐBG BRCA1, BRCA2, ATM, PALB2, CDKN2A, TP53

Có khoảng 3-5% bệnh ung thư tuyến tụy là do hội chứng di truyền, 5-10% ung thư tuyến tụy mang tính chất gia đình (tiền sử gia đình mắc bệnh).

Ung thư tuyến tụy liên quan đến đột biến gene như BRCA1, BRCA2, ATM, PALB2, CDKN2A, TP53, hội chứng Lynch. Người có thành viên trong gia đình mắc hội chứng Peutz-Jeghers. Đây là hội chứng liên quan đến gene STK11 có thể dẫn đến polyp đường tiêu hóa và tàn nhang trên da. Nguy cơ ung thư tuyến tụy và các bệnh ung thư khác do hội chứng Peutz-Jeghers cũng cao hơn.

Ung thư hắc tố da và gene CDKN2A

Một số ít trường hợp bệnh được di truyền, có liên quan đến tỷ lệ rối loạn cao do đột biến gene CDKN2A

Sarcoma và gene RB1 hoặc TP53

Là một nhóm khối u ít gặp và không đồng nhất, phát sinh trong các mô liên kết. Sự phát triển của ung thư này có liên quan đến di truyền, thường xuất hiện ở thời thơ ấu do các đột biến gene RB1 hoặc TP53 của u nguyên bào võng mạc

Ung thư thận và gene VHL

Những thay đổi DNA di truyền có thể gây ra ung thư thận như đột biến gene VHL - gene ức chế khối u. Các gene ức chế khác như FH (liên quan đến ung thư bạch cầu), FLCN (hội chứng Birt-Hogg-Dubé), SDHB và SDHD (ung thư thận gia đình) làm tăng nguy cơ ung thư thận

Ung thư dạ dày và gene CDH1

Khoảng 1-3% trường hợp ung thư dạ dày là do đột biến gene CDH1. Đột biến này làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày và ung thư vú tiểu thùy. Người thừa hưởng đột biến gene này có nguy cơ cao mắc bệnh ung thư dạ dày khi còn trẻ.

Ung thư đại trực tràng và hội chứng Lynch

Trong một số trường hợp, ung thư đại trực tràng có thể do hội chứng Lynch gây ra, chiếm khoảng 3% các ca ung thư này. Hội chứng Lynch là rối loạn gene trội trên nhiễm sắc thể thường, trong đó các bệnh nhân có một hoặc vài đột biến gene gây rối loạn quá trình sửa chữa bắt cặp không khớp ADN, gồm các gene MLH1, MSH2, MSH6, PMS2 và EPCAM.

Người mắc hội chứng Lynch có nhiều khả năng phát triển ung thư đại trực tràng, nhất là khi còn trẻ. Phụ nữ được chẩn đoán mắc hội chứng Lynch có nhiều khả năng bị ung thư nội mạc tử cung và ung thư buồng trứng. Nam và nữ mắc hội chứng Lynch đều có thể ung thư dạ dày, gan, thận, não và da cao hơn người bình thường.

Ung thư tuyến tiền liệt

Khoảng 5-10% bệnh ung thư tuyến tiền liệt là do di truyền. Các gene đột biến có thể gây ung thư này gồm BRCA1 và BRCA2, HOXB13, ATM, gene sửa chữa sai lệch DNA có liên quan đến hội chứng Lynch.