Ngành thủy sản "tố" bị ép xếp vào nhóm nguy cơ gây ô nhiễm cao

Cập nhật: 16:02 | 21/09/2021
Một trong những nội dung mà doanh nghiệp thủy sản băn khoăn nhất đó là quy định nhà máy chế biến thủy sản có lưu lượng xả nước thải ra môi trường từ 200 m3/ngày trở lên đều phải lắp hệ thống quan trắc tự động nước thải.

Bộ Tài nguyên & Môi trường đang dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều Luật Bảo vệ môi trường 2020. Hiện dự thảo đã được Bộ Tài nguyên & Môi trường chuyển qua Bộ Tư pháp để chuẩn bị thẩm định, theo quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật vào tuần cuối tháng 9 này.

Tuy nhiên, dự thảo nghị định có những nội dung khiến nhiều hiệp hội doanh nghiệp, trong đó có ngành thủy sản cho rằng sẽ làm tăng chi phí đầu tư, giá thành sản phẩm, làm giảm năng lực cạnh tranh của ngành, nhất là trong bối cảnh dịch Covid-19 đang để lại những hậu quả nặng nề và chuỗi cung ứng ngành thủy sản có nguy cơ bị đứt gãy như hiện nay.

Một trong những nội dung mà doanh nghiệp thủy sản băn khoăn nhất đó là quy định nhà máy chế biến thủy sản có lưu lượng xả nước thải ra môi trường từ 200 m3/ngày trở lên đều phải lắp hệ thống quan trắc tự động nước thải. Do các cơ sở chế biến thủy sản bị xếp vào nhóm loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm mỗi trường nhóm III.

So với quy định tại Nghị định 40/2019 sửa đổi một số điều Nghị định quy định chi tiết Luật Bảo vệ môi trường, quy định cơ sở chế biến thủy sản có mức 1.000 m3/ngày mới phải lắp hệ thống quan trắc nước, dự thảo nghị định mới đã giảm 5 lần so với trước đây.

nganh thuy san to bi ep xep vao nhom nguy co gay o nhiem cao
Doanh nghiệp thủy sản đang gặp nhiều khó khăn vì dịch bệnh lại lo đối phó với các quy định bất hợp lý của nghị định bảo vệ môi trường đang được lấy ý kiến thông qua.

Doanh nghiệp ngành thủy sản băn khoăn rằng việc hạ tiêu chuẩn đối với cơ sở phải lắp đặt hệ thống quan trắc nước tự động cơ quan soạn thảo đã dựa trên cơ sở pháp lý hay khoa học nào hoặc báo cáo đánh giá thực tiễn nào, vì trong dự thảo lấy ý kiến góp ý chưa được nhắc đến.

Trường hợp dự thảo được thông qua, 100% nhà máy, bao gồm cả nhà máy chế biến thủy sản rất nhỏ cũng phải lắp đặt hệ thống quan trắc nước tự động. Trong khi đó, chi phí để đầu tư mỗi hệ thống này lên tới cả tỷ đồng, chưa kể chi phí vận hành mỗi tháng là khoảng 40-50 triệu đồng.

Hiện doanh nghiệp Việt Nam nói chung phần lớn có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, chưa kể ngành thủy sản có nhiều cơ sở chế biến rất nhỏ, vì vậy việc tuân thủ quy định tạo ra gánh nặng tài chính rất lớn cho doanh nghiệp. Điều này càng trở lên thách thức khi nguồn lực của doanh nghiệp đã bị bào mòn do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Kể cả khi đã đầu tư hệ thống quan trắc nước tự đồng thì nguy cơ doanh nghiệp bị phạt vẫn hiện hữu, bởi theo Hiệp hội Chế biến & Xuất khẩu thủy sản (VASEP) thì hệ thống này không có tác dụng để quản lý mức độ ô nhiễm môi trường, vì kết quả đo quan trắc không chính xác.

Dự thảo cũng quy định trường hợp cơ sở có lưu lượng xả thải từ 15.000 m3/ngày trở lên thì tần suất quan trắc nước thải định kỳ là 1 tháng/lần. Do đặc thù có lưu lượng xả thải rất lớn, thậm chí lên tới 30% lượng nước trong ao nuôi/ngày, nếu áp dụng quy định vừa nêu thì hầu như các vùng nuôi thủy sản đều phải thực hiện quan trắc 1 tháng/lần. Điều này làm tăng chi phí lấy mẫu và phân tích mẫu lên rất nhiều. Trong khi quy định hiện hành chỉ yêu cầu tần suất quan trắc nước thải định kỳ là 3 tháng/lần.

Quy định này nếu được thông qua sẽ tạo ra thách thức với những doanh nghiệp thủy sản, nhất là doanh nghiệp có vùng nuôi. Việc dự thảo Nghị định đưa ngành chế biến thủy sản vào nhóm “loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường” mức III, hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp thủy sản cho rằng không công bằng. Bởi trên thực tế so với các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm như sữa, dệt nhuộm... thì nước thải của ngành thủy sản ít ô nhiễm môi trường, ít độc hại hơn nhiều nhưng lại bị xếp vào mức độ cao hơn.

VASEP phân tích trước tiên về khí thải, hiện chỉ có một số ít nhà máy chế biến thủy sản có công đoạn gia nhiệt (nhà máy đồ hộp, nhà máy sản xuất hàng chín, hàng chần như chả cá, tôm luộc, tôm bao bột,...) và sử dụng lò hơi. Điều này không giống như một số nhà máy chế biến thực phẩm khác.

nganh thuy san to bi ep xep vao nhom nguy co gay o nhiem cao
Doanh nghiệp thủy sản chưa đồng ý với Dự thảo Nghị định hướng dẫn luật Bảo vệ môi trường 2020.

Về nước thải, theo QCVN 11:2015 về nước thải nhà máy chế biến thủy sản đã nêu các chỉ tiêu đặc thù của nước thải chế biến thủy sản. Trong đó, nước thải chế biến thủy sản không có các chỉ tiêu nước thải độc hại; các chỉ tiêu nước thải cũng chủ yếu có nguồn gốc từ cơ thịt thủy sản và các phụ gia thực phẩm, đều là những chất từ tự nhiên và ăn được đối với con người, không gây độc hại mạnh như những hóa chất dùng trong các ngành công nghiệp khác.

Về chất thải rắn, trong quá trình chế biến chủ yếu là các phế liệu từ thủy sản như xương cá, da cá, mỡ cá, vỏ tôm, đầu tôm, vỏ ngao, sò... hoặc một số túi nylon, bao bì carton... Các phế liệu thủy sản đa phần được các cơ sở bên ngoài thu gom để làm nguyên liệu cho những ngành sản xuất khác như sản xuất thức ăn chăn nuôi, dầu biodiezel, chitin, chitosan, collagen... Vỏ ngao, sò, ốc, hến... cũng thường được một số cơ sở thu mua để làm nguyên liệu sản xuất đồ mỹ nghệ, xay ra thành bột trộn vào thức ăn chăn nuôi để tăng lượng canxi cho vật nuôi, lấp đất, lấp đường... hoặc nếu phải bỏ đi thì cũng không phân hủy tạo thành các chất thải nguy hại. Bao bì carton, nilon cũng được các cơ sở thu gom phế liệu thu mua lại để làm nguyên liệu tái chế.

Ngoài ra, theo xếp loại của dự thảo Nghị định quy định chi tiết Luật Bảo vệ Môi trường 2020, ngành nuôi trồng (vốn phải sử dụng lượng nước lớn để nuôi) lại nằm trong danh mục dự án đầu tư nhóm I có nguy cơ tác động xấu đến môi trường mức độ cao. Theo đó, tất cả dự án khai thác khoảng sản, tài nguyên nước; dự án có hoạt động xả nước thải vào nguồn nước với công suất từ 3.000 m3/ngày đêm trở lên phải xin cấp giấy phép về khai thác khoáng sản, tài nguyên nước từ Bộ Tài nguyên & Môi trường.

Dự thảo cũng quy định dự án sử dụng đất, đất có mặt nước quy mô trung bình từ 50 ha đến dưới 100 ha được xếp vào Nhóm II có nguy cơ tác động xấu đến môi trường. VASEP cho rằng quy định này đang đi ngược lại với chủ trương hiện đại hóa nông nghiệp, khuyến khích nhân rộng mô hình “cánh đồng mẫu lớn” của Chính phủ.

Dẫn tới các cơ sở nuôi trồng thủy sản nhỏ lẻ cũng phải xin cấp phép cấp Bộ Tài Nguyên & Môi trường vẫn thuộc nhóm nguy cơ tác động xấu đến môi trường, gia tăng thủ tục hành chính, tăng thêm gánh nặng cho các cơ sở nuôi trồng. Các doanh nghiệp thủy sản cho rằng dự thảo chỉ nên áp dụng quy định này cho các dự án chuyển đổi mục đích sử dụng từ nông nghiệp sang những mục đích khác thì phù hợp hơn.

Thanh Phong