Kỷ niệm ngày giải phóng Miền nam

Ngày 28-3-1975: Quân đội Sài Gòn rút bỏ Đà Nẵng

Cập nhật: 07:29 | 28/03/2021
Ngay khi có quyết định chính thức rút bỏ Huế ngày 24-3-1975, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh bằng mọi giá phải “tử thủ” Đà Nẵng, ít nhất trong vòng 2 tuần lễ “để các đơn vị quân đội có đủ thời gian tái phối trí lực lượng và chờ hành động cứu viện của đồng minh Hoa Kỳ theo lời hứa của Nixon từ trước ngày ký Hiệp định Paris”.    

 

Đầu năm 1975, Quân khu I - Quân đoàn I Quân lực Việt Nam Cộng hòa là đơn vị có biên chế mạnh nhất trong các quân khu, biệt khu. Do nằm ở địa bàn đối diện với miền Bắc, Quân đoàn này có 3 sư đoàn bộ binh 1, 2 và 3; sư đoàn dù và sư đoàn thuỷ quân lục chiến thuộc lực lượng tổng trù bị với biên chế mỗi sư đoàn có 4 lữ đoàn; bốn liên đoàn biệt động quân 11, 12, 14, 15; 5 thiết đoàn xe tăng, xe bọc thép 4, 7, 11, 17, 20; 13 chi đội xe bọc thép tăng phái cho các sư đoàn bộ binh; 21 tiểu đoàn pháo binh; sư đoàn không quân số 1; 2 tiểu đoàn cao xạ tự hành; 2 hải đoàn tuần duyên và 2 giang đoàn; 50 tiểu đoàn và 5 đại đội bảo an; 6 đại đội cảnh sát dã chiến.

Quân đoàn này cũng nắm trong tay và sở hữu một khối lượng binh lực, vũ khí, phương tiện chiến tranh và dự trữ hậu cần rất lớn gồm 134.000 sĩ quan và binh sĩ, trong đó có 84.000 quân chủ lực và 50.000 quân địa phương; 449 xe tăng, xe bọc thép; 418 khẩu pháo lớn có cỡ nòng từ 105mm đến 175mm; 27 xe bọc thép M-42 gắn cao xạ 40 mm 2 nòng; 37 xe cùng loại gắn súng máy 6 nòng loại Vulcan; 373 máy bay, trong đó có 96 máy bay chiến đấu; 165 tàu, xuồng các loại.

Kế hoạch tử thủ Đà Nẵng của Nguyễn Văn Thiệu được các tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa, trong đó có tướng Ngô Quang Trưởng - Tư lệnh Quân đoàn - Quân khu 1 đang trấn giữ Đà Nẵng đồng thuận và triển khai thực hiện. Tuy nhiên, từ ngày 25-3-1975, khi Quân giải phóng bắt đầu tiến công vào thành phố Đà Nẵng thì kế hoạch “tử thủ” đã không thể thực hiện được. Các đơn vị làm nhiệm vụ phòng ngự bắt đầu hỗn loạn, kỷ luật quân đội không được chấp hành. Tinh thần chiến đấu của binh lính xuống đến mức thấp nhất, nhiều sĩ quan tìm cách lẩn trốn, móc nối đưa gia đình chạy khỏi vùng chiến sự.

Trước và trong khi Chiến dịch diễn ra, quần chúng nhân dân tại các địa phương đã tích cực hỗ trợ quân Giải phóng. Hoạt động tiến công, nổi dậy của quần chúng nhân dân hướng tới buộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa và Cảnh sát rơi vào thế bị động. Tại Quảng Nam và Đà Nẵng, quần chúng nhân dân đã giúp QGP và Công an Giải phóng bức hàng những binh lính VNCH còn ngoan cố, không chịu đầu hàng. Phía Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã chuẩn bị các phương án hỗ trợ quần chúng làm chủ các điểm chiến lược như đài phát thanh, trụ sở làm việc,...

ngay 28 3 1975 quan doi sai gon rut bo da nang
Quân ta vào Đà Nẵng khi quân đội  Sài Gòn rút chạy khỏi Vùng 1 chiến thuật.

Ngày 28-3-1975, trong lúc chiến dịch giải phóng Đà Nẵng của Quân giải phóng đang tiến đến thời khắc quyết định thì Ngô Quang Trưởng triệu tập các chỉ huy trưởng họp bàn khẩn cấp “một số biện pháp vãn hồi trật tự và tái trang bị các đơn vị có mặt trong thành phố” nhằm chống lại các mũi tiến công của Quân giải phóng. Nhận thấy không còn khả năng thực hiện kế hoạch “tử thủ”, tối 28-3, hội đồng tướng lĩnh quyết định rút lui toàn diện quân lực Việt Nam Cộng hòa khỏi lãnh thổ Quân khu 1.

Ngay sau đó, Ngô Quang Trưởng cùng các tướng lĩnh lên tàu hải quân thoát chạy về Sài Gòn, bỏ mặc thành phố Đà Nẵng cùng số binh lính còn mắc kẹt tại đây. Đà Nẵng chính thức bị bỏ ngỏ! Mất Đà Nẵng là mất một địa bàn then chốt, báo hiệu sự cáo chung của chế độ Sài Gòn.

P.V (Tổng hợp)

  • Xin chờ trong giây lát...