Thu hồi 11.021m2 đất bất hợp lý, doanh nghiệp Đài Loan kiện UBND TP Đà Nẵng

Cập nhật: 09:39 | 25/01/2021
TAND TP Đà Nẵng vừa có Thông báo số 42/2020/TLST-HC thụ lý đơn vụ án hành chính  của Công ty TNHH Wei Xern Sin Industrial Đà Nẵng yêu cầu huỷ bỏ quyết định hành chính do UBND TP Đà Nẵng ban hành.

Doanh nghiệp đề nghị hủy 4 văn bản

Theo đơn kiện, Công ty TNHH Wei Xern Sin Industrial Đà Nẵng do ông Chiu Cheng Tsai, Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc đại diện yêu cầu Toà án giải quyết là, huỷ bỏ 4 văn bản gồm: Công văn số 2725/VP-KT2 ngày 8/8/2016 và Công văn số 3710/VP-KT2 ngày 4/10/2016 của Văn phòng UBND TP về việc thu hồi đất của Công ty. Công văn số 6411/UBND-KT ngày 17/8/2017 của UBND TP về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hủy bỏ hợp đồng thuê đất của Công ty. Công văn số 10049/UBND-KT ngày 12/12/2017 UBND TP xác định lại đơn giá tiền thuê đất, thu bổ sung tiền thuê lại đất theo đơn giá dịch vụ và thu bổ sung tiền sử dụng hạ tầng (phần nội dung truy thu tiền thuê đất từ 1/1/2006 đến 31/12/2023 với số tiền 393.568,79 USD và xác định bổ sung đơn giá thuê đất dịch vụ 6.900 đồng/m2/năm từ ngày 14/1/2016 đến 31/12/2017 với số tiền 625.239.134 đồng).

thu hoi 11021m2 dat bat hop ly doanh nghiep dai loan kien ubnd tp da nang
Một trong các văn bản bị đề nghị hủy bỏ

Yêu cầu UBND TP trả lại cho Công ty 11.021 m2 đất bị thu hồi tại biên bản do Công ty Phát triển và Khai thác hạ tầng Khu công nghiệp Đà Nẵng lập ngày 17/3/2017 (theo chỉ đạo của UBND TP). Bổ sung thời hạn thuê đất của Công ty đến năm 2046 đối với Hợp đồng thuê đất số 04/HĐTĐ-ĐC ngày 30/1/1996 cho đúng với thời hạn thuê đất đã được UBND TP chấp nhận tại Công văn số 3415/VP-KTN ngày 12/10/2009 và thời hạn hoạt động ghi trong giấy chứng nhận đầu tư (thay đổi lần 2) do Ban Quản lý (BQL) các Khu công nghiệp và Chế xuất Đà Nẵng cấp ngày 28/12/2009.

Thu hồi bất hợp lý 11.021m2 đất

Theo hồ sơ, ngày 14/7/1993, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 357/TTg cho Công ty TNHH Wei Xern Sin Industrial Đà Nẵng (Công ty) thuê 50.000 m2 đất, đơn giá 0,06 USD/m2/năm để thực hiện dự án sản xuất tăm hương, tăm tre, hương, giấy súc và giấy công nghiệp.

Ngày 30/1/1996 Công ty ký Hợp đồng số 04/HĐTĐ-ĐC với Sở Địa chính tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng thuê 50.000 m2 đất tại xã Hòa Khánh, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (cũ), đơn giá 0,06 USD/m2/năm.

Ngày 9/5/1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 394/QĐ-TTg điều chỉnh thời hạn cho thuê đất tại Quyết định số 357/TTg, thời hạn thuê đất 30 năm kể từ ngày 19/3/1993.

Ngày 20/10/1998, Công ty được UBND TP Đà Nẵng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K-160525 với diện tích 50.000 m2.

Năm 2009, thực hiện chủ trương của UBND TP về chuyển đổi ngành nghề để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường do sản xuất giấy súc, Công ty thống nhất chuyển đổi sang kinh doanh cho thuê nhà xưởng và được UBND TP đồng ý cho Công ty tiếp tục thuê đất để thực hiện dự án đến hết năm 2046.

Ngày 28/12/2009, BQL các Khu công nghiệp và Chế xuất Đà Nẵng đã cấp giấy chứng nhận đầu tư (thay đổi lần 2) cho Công ty với ngành nghề kinh doanh là xây dựng nhà xưởng và kho cho thuê; diện tích đất sử dụng 50.000 m2; thời hạn hoạt động đến năm 2046. Tiến độ thực hiện dự án: Khởi công xây dựng và sửa chữa nhà xưởng cũ vào tháng 1/2010, bắt đầu cho thuê vào quý II/2011.

Ngày 10/3/2011 Công ty Phát triển và Khai thác hạ tầng khu công nghiệp Đà Nẵng có Văn bản số 47/CV-Cty xác nhận Công ty đã nộp 915,3 triệu đồng tiền thuê đất đến hết năm 2023 (tương ứng 0,06 USD x 50.000 m2 x 18 năm).

Ngày 29/6/2015 BQL các Khu công nghiệp và Chế xuất Đà Nẵng đã cấp giấy chứng nhận đầu tư (thay đổi lần 3) cho Cty. Diện tích đất sử dụng vẫn 50.000 m2; thời hạn hoạt động đến ngày 12/12/2046. Tiến độ thực hiện dự án: Đối với phần diện tích 30.000 m2 đã triển khai xây dựng và cho thuê từ quý II /2011, phần diện tích 20.000 m2, xây dựng hoàn thành và đưa vào sử dụng tháng 6/2015.

Sau đó, Công ty nhiều lần có văn bản đề nghị cấp giấy phép xây dựng các hạng mục trên phần đất 20.000 m2, nhưng UBND TP và BQL các Khu công nghiệp và chế xuất Đà Nẵng không giải quyết.

Ngày 8/8/2016 và ngày 4/10/2016, UBND TP ban hành Công văn số 2725/VP-KT2 thu hồi 11.000 m2/50.000 m2 đất của Công ty.

Đến ngày 17/3/2017, Công ty Phát triển và Khai thác hạ tầng Khu công nghiệp Đà Nẵng đã lập biên bản thu hồi 11.021 m2 đất của Công ty để giao cho Công ty TNHH Đầu tư NLPT (Công ty NLPT), nay đổi tên là Viet Minerals, sử dụng với mục đích làm “Nhà máy tinh lọc khoáng sản” công suất 100.000 tấn/năm.

Tuy nhiên, suốt nhiều năm liền Công ty NLPT không hề làm bất cứ thủ tục gì để triển khai dự án thay vào đó, công ty này liên tục khai thác, vận chuyển cát trái phép.

Sau khi báo chí phản ánh, Công ty NLPT “án binh bất động” , đồng thời, BQL Khu công nghệ cao và các Khu công nghiệp đã ký công văn số 1917/BQL-QLXT&HTĐT ngày 28/8/2019 đề nghị UBND TP hủy chủ trương cho thuê lại đất để đầu tư dự án “Nhà máy tinh lọc khoáng sản” tại Khu công nghiệp Hòa Khánh của Công ty NLPT với lý do dự án “Nhà máy tinh lọc khoáng sản” không phù hợp với ngành nghề tại khu công nghiệp này và ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 602/Ttg-CN ngày 10/5/2018 về việc một số giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với tài nguyên cát.

thu hoi 11021m2 dat bat hop ly doanh nghiep dai loan kien ubnd tp da nang
Công ty NLPT sử dụng 11.021m2 đất để tập kết, khai thác, vận chuyển cát trái phép

Tiếp đó, ngày 11/12/2019, BQL có văn bản đề nghị UBND TP chưa xem xét giải quyết kiến nghị của Công ty NLPT do đang giải quyết đơn khiếu nại của Công ty Wei Xern Sin Industrial Đà Nẵng về việc thu hồi đất nên chưa đủ cơ sở để cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho Công ty NLPT (Viet Minerals). Đồng thời đề nghị UBND TP chỉ đạo Thanh tra TP tiến hành xác minh, giải quyết nội dung khiếu nại của Công ty Wei Xern Sin Industrial Đà Nẵng.

Cuối tháng 12/2019, UBND thành phố ký văn bản đồng ý thống nhất theo đề xuất của BQL, chưa xem xét giải quyết kiến nghị của Công ty NLPT. Tuy nhiên, cuối 2020, Công ty NLPT “tái khởi động”, cho xe vận chuyển cát về tập kết vun cát thành đống tại khu vực 11.021m2 đất tranh chấp. Theo Ban quản lý, Công ty NLPT vận chuyển cát về chứa tại khu đất này là do thời gian trước đây đơn vị này đã nộp tiền thuê đất nên bây giờ tiếp tục tận dụng khu đất để tập kết cát tạm thời?!

Theo ông Chiu Cheng Tsai, khu đất đang trong thời gian chờ thành phố đưa ra quyết định cuối cùng, nhưng BQL vẫn cho Công ty NLPT làm bãi tập kết cát là không thể chấp nhận. Bởi chính trên diện tích đất này, Công ty Wei Xern Sin cũng đã nộp tiền thuê đất cho thành phố đến năm 2023 và đã được UBND TP đồng ý cho tiếp tục thuê đất đến hết năm 2046.

Việc UBND TP thu hồi đất của Công ty trong khi đơn vị không có bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật về đất đai. UBND TP thu hồi đất nhưng không ban hành quyết định thu hồi mà chỉ ban hành công văn truyền đạt ý kiến của Chủ tịch UBND TP và buộc Công ty bàn giao đất cho Công ty NLPT là không đúng quy định tại Điều 66 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, ông Chiu Cheng Tsai chia sẻ.

Theo thông báo của Tòa án, trong thời hạn 10 ngày, người bị kiện và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phải nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo. Trường hợp gia hạn thì phải có đơn xin gia hạn gửi cho Toà án nêu rõ lý do để Toà xem xét. Hết thời hạn này mà người được thông báo không có ý kiến gì đối với các yêu cầu của người khởi kiện mà không có lý do chính đáng, thì Toà án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Minh Hằng - Huy Nguyễn

  • Xin chờ trong giây lát...