Kỷ niệm ngày báo chí Việt Nam

Vài trao đổi về cách làm báo và dạy báo

Cập nhật: 00:00 | 20/06/2021
Trước khi trở thành phóng viên chuyên nghiệp, tôi là cộng tác viên của báo Nhân Dân. Năm 1957, được Khu ủy điều động, tôi bắt đầu trở thành người làm báo chuyên nghiệp.    
vai trao doi ve cach lam bao va day bao
Cố nhà báo Hữu Thọ

Tôi còn nhớ, vì vốn là cán bộ cấp ủy địa phương, quen với việc viết báo cáo, nên bài viết đầu tiên của tôi gần như bị phá sản. Cấp trên có nói, cậu viết như là viết báo cáo, mà làm báo khác với làm báo cáo.

Và câu thứ hai, anh ấy nói: Người làm báo thì phải quan tâm đến ý kiến riêng của mình, biết bày tỏ thái độ về những sự kiện mà mình quan sát được. Nhưng nên nhớ, tỏ thái độ riêng không phải là chuyện dễ, phải có một trình độ nhất định, một kiến thức nhất định trong lĩnh vực mà mình quan tâm thì mới có ý kiến riêng được. Do vậy, nhà báo phải không ngừng tự học hỏi, nâng cao kiến thức và chuyên môn nghề nghiệp.

Thời làm báo của thế hệ chúng tôi khác với thế hệ làm báo bây giờ nhiều lắm. Thứ nhất, ngày xưa, chúng tôi làm việc do Đảng phân công, hoàn toàn không được chọn lựa. Đảng phân công làm quân đội là phải làm quân đội, phân công làm công tác Đảng thì phải làm công tác Đảng, phân công làm báo thì phải làm báo chí.

Thứ hai, do đất nước kháng chiến nên khởi nghiệp của chúng tôi là trình độ văn hóa thấp. Ví như tôi, là học sinh nhưng bị thoát ly từ năm 14 tuổi thì làm sao có phông văn hóa cao được. Học hết lớp 10, lớp 12 đã là ghê gớm lắm rồi. Thời của tôi, cả báo Nhân Dân chỉ có duy nhất 2 người là sinh viên năm thứ nhất đại học là Thép Mới và Đức Thịnh. Sinh viên năm nhất thôi, tức là mới vào được trường đại học thôi. Điều đó cho thấy, thế hệ của chúng tôi là thế hệ chịu nhiều thiệt thòi. Nhưng, chính hoàn cảnh khó khăn lại tạo nên điều thuận lợi là tinh thần tự học, tự vươn lên rất mạnh mẽ.

Thứ 3 là, lúc vào nghề, ở Việt Nam bấy giờ chỉ có lý luận chính trị theo quan điểm của Trung Quốc, Liên Xô hay Đảng Cộng sản Pháp chứ Việt Nam không có lý luận báo chí, thành ra, phóng viên chúng tôi phải vừa tự làm, tự mày mò tổng kết kinh nghiệm và truyền đạt kinh nghiệm cho nhau. Từ tinh thần tự học mà tự rút kinh nghiệm. Tự rút kinh nghiệm trong các cái công việc hay bài viết của mình, tự rút kinh nghiệm qua bạn bè của mình.

Thứ 4, phương tiện tác nghiệp thời đó rất lạc hậu, chỉ có quyển sổ tay, bút bi và xe đạp. Tất cả những thứ đó đều không thuận lợi cho công việc của người làm báo, nhưng nó lại tạo ra một thuận lợi, đó là tính tự học. Tinh thần tự học là rất quan trọng đối với người làm báo. Hơn nữa, không có phương tiện đi lại thì vất vả, nhưng lại tạo điều kiện cho nhà báo phát huy khả năng quan sát. Thời chúng tôi, đi xe đạp rong ruổi trên đường, rồi vác cả xe đạp lên tàu hỏa lên Lào Cai, rồi lại vác lên tàu hỏa quay về Hà Nội, thành thử, có điều kiện quan sát trực tiếp, lấy được rất nhiều chất liệu quý cho bài viết của mình.

Bây giờ, người làm báo thuận lợi hơn chúng tôi xưa rất nhiều. Có trường lớp đào tạo bài bản, có giáo án giáo trình, có kinh nghiệm trong nước và quốc tế, có phương tiện tác nghiệp hiện đại, nên báo chí Việt Nam phát triển rất mạnh cả về số lượng và chất lượng. Qua sự phát triển đó, thấy được có phần đóng góp to lớn của các trường đào tạo báo chí, của các thầy cô giáo.

2. Tôi cũng có vinh dự trở thành người truyền giảng kinh nghiệm làm báo ở nhiều khóa, nhiều năm. Với tôi, trở thành người đứng lớp để giảng về báo chí là một cơ duyên. Khi tôi chuyển làm báo chuyên nghiệp được 3 năm, anh Hoàng Tùng mời về báo cáo kinh nghiệm công tác ở lớp Báo chí của trường Đại học Nhân dân. Bởi mới làm báo chuyên nghiệp được 3 năm đã được đứng bên cạnh giảng viên Hoàng Tùng, tôi thắc mắc với anh: Tại sao em mới ra làm báo 3 năm, mà anh lại bảo em đến trường Đại học nhân dân báo cáo kinh nghiệm báo chí?

Anh Hoàng Tùng nói: Bây giờ, trường báo chí cần người có kinh nghiệm thực tiễn để báo cáo, còn lý luận thì nói mãi rồi. Quanh đi quẩn lại, người làm báo vẫn chỉ được học mấy câu lí luận của Liên Xô, rồi Trung Quốc, lí luận của Đảng Cộng sản Pháp… Cậu đến đấy là để báo cáo kinh nghiệm thực tế cậu đã đi lấy tài liệu như thế nào, cách cậu viết ra sao. Cái đó mới thực sự rất cần cho sinh viên báo chí.

    Thế là tự nhiên, tôi trở thành giảng viên của lớp báo chí đầu tiên của trường đại học Nhân dân, và chính lớp ấy là tiền thân cho khoa Báo chí - Học viện Báo chí Tuyên truyền sau này. Lúc bấy giờ, Trường mới chỉ có 2 lớp, một cho đối tượng là học sinh phổ thông, một cho cán bộ. Thực ra, từ người làm báo, trở thành giảng viên báo chí bây giờ là bình thường.

Nhưng mà lúc bấy giờ thì lạ lắm! Tôi lại phải mày mò tự viết giáo trình, tự tìm phương pháp truyền đạt phù hợp. Tôi tập trung báo cáo kinh nghiệm, truyền giảng ở 2 môn là công tác phóng viên và phóng sự điều tra, đồng thời, báo cáo kinh nghiệm viết về vấn đề nông nghiệp nông thôn. Thế là trở thành giảng viên và được anh em chấp nhận.

vai trao doi ve cach lam bao va day bao
Minh họa

Tôi tham gia dạy cho lớp báo chí khóa 1 và khóa 2. Tôi quan sát thấy Khóa 1 và Khóa 2 giờ, nhiều người đã trưởng thành. Khóa 1 có Quang Thống - Tổng biên tập báo quân đội, Minh Sơn - Vụ trưởng Báo Nhân dân. Khóa 2 có Tạ Ngọc Tấn, Hữu Ước và nhiều nhà văn, nhà báo khác. Ngoài ra, tôi còn tham gia dạy lớp đại học 2, gồm những người đã tốt nghiệp đại học, có kinh nghiệm, kiến thức xã hội. Lớp này cũng có rất nhiều người giỏi, như Huỳnh Hữu Nhân - hiện là Chủ tịch hội nhà báo Thành phố Hồ Chí Minh, Thịnh Giang - Phó tổng biên tập báo Nhân Dân, Xuân Thuỳ- Trưởng ban Công nghiệp báo Nhân Dân…

Và tôi, do yêu cầu công tác, tôi hay về cơ sở, lại hay viết về thể loại điều tra nên đã đúc kết kinh nghiệm thành giáo trình Nghiệp vụ báo chí đầu tiên gồm 2 tập. Tập đầu tiên xuất bản năm 1977, tôi viết 2 chương, chương 1 về công tác phóng viên và chương 2 về nghiệp vụ phóng viên điều tra. Tức là sau 20 năm làm báo và dạy học, tôi mới đúc kết được kinh nghiệm để in thành giáo trình. Về sau, cuốn Công việc viết báo là tập bài giảng của tôi tại trường Báo chí. Bây giờ đọc lại giáo trình của tôi thuở ấy so với bây giờ thì thấy, giáo trình giờ phong phú hơn nhiều, tính khoa học mạnh mẽ hơn, kiến thức cũng sâu sắc hơn do học hỏi được từ phương Tây.

 Nhưng, kiểu viết sách từ quá trình tự học, từ tự tổng kết kinh nghiệm của mình và của bạn bè như chúng tôi thủa xưa cũng có cái hay. Nó tạo nên bản sắc. Có những nhận định, những thủ pháp làm báo có vẻ hơi cũ kĩ do xuất phát từ những quan điểm chính trị lúc bấy giờ, nhưng vẫn là nền móng lý thuyết báo chí cực kì quan trọng, phù hợp với điều kiện và môi trường tác nghiệp ở Việt Nam. Nền báo chí nước ngoài có nhiều quan điểm, nên chúng ta cần phải tiếp thu một cách cẩn thận và có chọn lọc.

Ta nên tổng kết kinh nghiệm làm báo chí của Việt Nam – một nền báo chí có bề dày lịch sử để truyền đạt lại cho sinh viên, cho đời sau. Bằng cách nào? Bằng cách tổng kết kinh nghiệm từ chính những bậc thầy báo chí Việt Nam. Những nhà báo nổi tiếng của Việt Nam có nhiều, mà tôi thấy ít sự tổng kết quá! Anh Hoàng Tùng, anh Thép Mới, anh Quang Đại..., những cây bút ấy cần có sự nghiên cứu và tổng kết. Bây giờ cũng có nhiều nhà báo giỏi, tận dụng được kinh nghiệm của họ là điều hết sức quý báu. Lịch sử của những tờ báo hay các tác giả lớn sẽ góp phần làm cho giáo trình báo chí của ta trở nên hoàn chỉnh hơn, các bài giảng của thầy cô cũng sinh động hơn.

Bây giờ, tôi quan sát dạy báo và học báo thông qua việc xem sách của các thầy giáo báo chí, ví dụ những người viết nhiều sách như anh Nguyễn Văn Dững, anh Nguyễn Đức Dũng, Đỗ Doãn Hoàng và nhiều anh chị khác... Hiện Nhiều cuốn sách rất tốt, nhưng tôi cũng có đọc vài sách của các giáo sư hay phó giáo sư, tôi nhận thấy các anh ấy đã cố gắng trình bày vấn đề bằng lý luận khái quát, nhưng lại vô cùng rối rắm. Cho nên người ta mới nói: Những người giỏi nhất là những người nói đơn giản về những vẫn đề phức tạp chứ không phải nói phức tạp về những vấn đề đơn giản. Tôi đọc một số giáo trình thấy rất nhiều sơ đồ, điều đó cho thấy các cậu ấy đang làm phức tạp vấn đề giản dị.

3. Cộng tác giảng dạy báo chí một thời gian, đến năm 1987-1988, tôi về làm chủ nhiệm khoa Báo chí của Phân viện Báo chí và Tuyên truyền. Lúc làm Chủ nhiệm khoa Báo, tôi có nói với đồng chí Tạ Ngọc Tấn là, bây giờ, kinh nghiệm thực tiễn là thứ quan trọng nhất, mình dạy chay không được đâu, cần mời anh em nhà báo viết giáo án, tham gia báo cáo, giảng dạy. Đầu tiên là để báo cáo kinh nghiệm các chuyến công tác, về sau, dần dần họ sẽ trở thành giảng viên chuyên nghiệp. Họ đúc kết kinh nghiệm thành những kiến thức khái quát, truyền đạt cho sinh viên cách viết một bài báo hay, cách khai thác tư liệu, cách tư duy đề tài… Càng mời được nhà báo giỏi, giàu kinh nghiệm sinh viện càng học được nhiều điều bổ ích, mới mẻ.

Về phía giảng viên, theo tôi, các giảng viên dạy báo cần là những người đã kinh qua hoạt động báo chí thực tiễn, nếu không sẽ là báo chí hàn lâm. Tôi biết có nhiều thầy cô ở Học viện tốt nghiệp xong được giữ lại trường, điều đó là một thuận lợi bởi họ đều là những người có năng lực, có tư duy sáng tạo, nhưng các thầy cô phải cộng tác thường xuyên với các cơ quan báo chí để bài giảng thêm phần thuyết phục, sinh động.

 Nhà báo đứng lên bục giảng thì phần quan trọng nhất là khái quát kinh nghiệm, tức là tư duy trừu tượng phải cao. Nhìn vào trình độ khái quát sẽ đoán được ai có khả năng giảng dạy giỏi. Những người chỉ làm công tác thống kê kinh nghiệm, nói lại kinh nghiệm của người khác thì chưa phải người giảng báo tốt.

Theo nhận xét của nhiều người, sinh viên tốt nghiệp Học viện Báo chí và Tuyên truyền của mình ra, phông văn hóa không bằng khoa Báo chí ở Khoa học xã hội và Nhân văn, nhưng về mặt chính trị thì rất tốt. Tuy nhiên, tôi vẫn muốn nhắc lại là, nhà báo không chỉ cần chính trị vững, mà phông văn hóa cũng rất quan trọng, nên chúng ta cần phải xem lại chương trình giảng dạy, cần bổ sung cho các em kiến thức tổng hợp, tư duy phân tích.

Nhân đây, tôi cũng rất mừng khi nghe tin thi vào Học viện Báo chí đã có phần thi năng khiếu. Tôi muốn tham góp vài ý kiến về điều này. Trước tiên, muốn thi theo năng khiếu, phải giải thích được năng khiếu báo chí là gì. Theo tôi, có 3 đặc điểm của năng khiếu báo chí. Một là, người ưa thích tìm kiếm cái mới, mà cái mới nào cũng có một phần phủ định hoặc phủ định toàn bộ, nên cần có đầu óc phê phán cái mới để tìm ra yếu tố tích cực, phù hợp quy luật phát triển... Hai là, người có năng khiếu báo chí là người thích tranh luận và suy ngẫm. Ba là, người có năng khiếu là người làm chủ phương pháp thể hiện, tức là biết truyền đạt lại cái mình biết để thuyết phục, hấp dẫn công chúng.

Nói như anh Phạm Văn Đồng, thì năng khiếu có phần bẩm sinh nhưng đồng thời nó cũng có phần rèn luyện. Ai trong nghề cũng đều biết phóng viên Minh Sơn - đỗ thủ khoa khóa 1, được về làm ở báo Nhân Dân. Cậu ấy xin đi thực tế ở hợp tác xã Minh Sinh - Hà Tây để quan sát viết bài về vấn đề chăn nuôi. Cậu ấy chỉ nói với tôi một câu: “Lợn nó to lắm anh ạ, nhưng tại sao nó lại cắn nhau?”.

 Nó cắn nhau vì có lợn lạ, chứ đã quen chuồng thì việc gì phải cắn nhau. Suy luận ấy giúp cậu hiểu ra rằng, hợp tác xã Minh Sinh mượn lợn về để đón đoàn kiểm tra và nhà báo đến. Thì chính năng khiếu cộng với tư duy logic của một người sống ở nông thôn đã cho Minh Sơn một khả năng quan sát đời sống rất tinh tường, từ đó mà cậu có được những bài báo gây tiếng vang.

Trong một Hội thảo của Ban Tuyên giáo, tôi có nhấn mạnh việc chúng ta đang bỏ quên một vấn đề hết sức quan trọng trong lý luận, đó là logic hình thức - vấn đề này ít dạy và hình như chưa có chuyên gia. Không vững về logic hình thức nên báo chí của mình ít tranh luận và tranh luận chưa thuyết phục, hay áp đặt. Do vậy, cần phải đẩy mạnh trang bị thêm kiến thức Triết học và lịch sử cho sinh viên. Trong thời buổi hiện nay, điều tôi lo nhất với báo chí là không có cây bút có thẩm quyền.

Nhà báo cứ sàn sàn như nhau, ít rèn luyện, ít đọc bài của nhau, mải chạy theo số lượng để đủ chỉ tiêu. Hơn lúc nào hết, trường báo phải góp phần định hình lại tư duy báo chí cho sinh viên. Và dạy năng khiếu báo chí cùng bắt đầu từ những việc tưởng như nhỏ nhặt đó. Mỗi người tự tổng kết kinh nghiệm của mình và hỏi han kinh nghiệm của bạn bè để tạo thành những giáo trình thuần Việt hơn, nhất là những phương pháp nghề nghiệp.

Khách quan để nhận xét, khi tổng kết, nếu học các kinh nghiệm bên ngoài thì dễ, còn tự đúc kết thì nó có cái “chất” Việt Nam hơn, phù hợp với hoạt động báo chí Việt Nam hơn.

Hữu Thọ

  • Xin chờ trong giây lát...